TỨ THÁNH QUẢ QUA KINH TẠNG PĀLI
Thích Trung Định
Tứ Thánh quả là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra giúp hành giả đánh giá được sự tu chứng của mình. Người chứng được một trong bốn Thánh quả này được xem là có tư cách của bậc Thánh, có Thánh tính, có giá trị làm Thánh, vượt lên sự tầm thường của con người, nếu ai cung kính cúng dường các vị này sẽ có phước rất lớn tùy theo cấp bậc chứng ngộ của họ. Tiêu chuẩn để đánh giácác quả vị Thánh là dựa vào mức độ tăngtrưởng Đạo quả qua việc phá trừ các Kiết sử (samyojana). Có mười kiết sử bao gồm Ngũ hạ phần kiết sử ‘orambhāgiya-samyojana’ (thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục và sân) chúng trói buộc chúng sinh trong phạm vi dục giới; và Ngũ thượng phần kiết sử ‘uddhambhāgiya-samyojana’ (hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử và vô minh), chúng trói buộc chúng sinh trong cõi sắc giới và vô sắc giới. Hành giả áp dụng tu tập ngang qua Tam vô lậu học (giới, định, tuệ) sẽ dần dầnđoạn trừ sạch chúng. Tiến trình tu tập đoạn trừ các kiết sử và chứng đắc các thánh quả sẽ được tuần tự trình bày như sau.
Les Quatre Nobles Vérités sont quatre niveaux d’éveil spirituel indiqués par le Bouddha pour aider les pratiquants à évaluer leur progression. Ceux qui atteignent l’une de ces quatre Nobles Vérités sont considérés comme possédant les qualités d’un saint, une nature et une valeur saintes, transcendant la condition humaine ordinaire. Quiconque offre respectueusement des présents à ces personnes recevra un grand mérite, en fonction de leur niveau d’éveil. Le critère d’évaluation de ces Nobles Vérités repose sur le degré de progression spirituelle par l’éradication des chaînes (samyojana). Il existe dix chaînes, dont les cinq chaînes inférieures (orambhāgiya-samyojana) : la vision de soi, le doute, l’attachement aux préceptes, le désir et la colère, qui retiennent les êtres dans le domaine du désir ; et les cinq chaînes supérieures (uddhambhāgiya-samyojana) : le désir d’exister, le désir de ne pas exister, l’orgueil, l’agitation et l’ignorance, qui retiennent les êtres dans les domaines de la forme et de l’informe. Ceux qui appliquent la triple formation (moralité, concentration et sagesse) les éradiqueront progressivement. Le processus d’éradication de ces entraves et d’obtention des nobles fruits sera présenté séquentiellement comme suit.
1. Thánh quả Dự lưu-Tu đà hoàn (Sotāpanna)
Thánh quả Dự lưu-Tu đà hoàn (Sotāpanna) là bậc Thánh đầu tiên trong bốn Thánh quả. Thánh quảnày được gọi là đã ‘Mở con mắt của Pháp’ (dharmacakkhu), chứng đắc pháp nhãn, tức là nhận ra rằng bất cứ điều gì sinh ra điều sẽ hoại diệt (vô thường). Niềm tin của họ trong giáo pháp thực sự sẽ là không thể lay chuyển hay gọi là ‘bất hoại tín’. Bậc thánh này cũng được gọi là Thánh quả ‘Thất lai’, tức là còn bảy lần sanh tử nữa mới chứng Thánh quả A La Hán. Vị ấy đã đoạn trừ ba kiết sử đầu là: thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), nghi (vicikicchā), và giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa). Kinh tạng Nikāya định nghĩa như sau: “Ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú, chắc chắn đạt quả Bồ-đề.”[1]
Tăng chi bộ kinh mô tả vị hành giả tu tập dần dần theo giới, định, và tuệ để đoạn trừ các kiết sử, chứng đắc thánh quả dự lưu như sau: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy không có vi phạmhọc pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bảnPhạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến Chánh giác.[2]
Như vậy thánh quả Dự lưu (Stream-winner): Thực hành trọn vẹn về giới, định hành trì một phần, tuệ, hành trì một phần, đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên và chứng đắc sơ quả. Ở đây, bậc dự lưu chưa thể loại bỏ toàn bộ góc rễ bất thiện (akusalamula) như tham (loba), sân (dosa) và si (moha). Tuy nhiên, vị ấy là một trong những người đã muội lược những góc rễ bất thiện, đi vào dòng thánh, thành tựuphạm hạnh đoạn trừ tất cả những ác pháp, đạt được hạnh phúc tột cùng (parama sukha) là Niết-bàn và không còn thối đọa.
- Le stade de l’Entrée dans le Courant (Sotāpanna)
Le stade de l’Entrée dans le Courant (Sotāpanna) est le premier des quatre stades de la sainteté. Ce stade est appelé « l’ouverture de l’œil du Dharma » (dharmacakkhu), c’est-à-dire l’atteinte de la vision du Dharma, signifiant la prise de conscience de l’impermanence de tout ce qui naît. Leur foi dans le vrai Dharma est inébranlable. Ce stade est également appelé le stade du « Septième Retour », car il leur reste sept naissances et sept morts avant d’atteindre l’état d’Arhat. Ils ont éradiqué les trois premiers liens : la vision de soi (sakkāyadiṭṭhi), le doute (vicikicchā) et l’attachement aux préceptes (sīlabbataparāmāsa). Les écritures du Nikāya le définissent ainsi : « Ici, un moine qui a rompu les trois chaînes devient un Entré dans le Courant, ne retombe pas dans les royaumes du mal et est certain d’atteindre l’éveil. »[1]
L’Anguttara Nikaya décrit ainsi un pratiquant qui cultive progressivement la moralité, la concentration et la sagesse pour rompre les chaînes et atteindre l’état d’Entré dans le Courant : « Ici, moines, un moine pratique pleinement les préceptes, partiellement la concentration et partiellement la sagesse. Il n’a enfreint aucune discipline mineure ou subtile ; il est considéré comme pur. Pourquoi ? Ici, moines, je ne les déclare pas incapables. Quelle que soit la discipline fondamentale à la conduite de Brahma, correspondant à cette conduite, il la respecte, y demeure, l’accepte et l’étudie. En rompant les trois chaînes, il devient un Entré dans le Courant, n’est plus sujet à la régression et est certain d’atteindre l’éveil. » Il atteindra assurément l’éveil.[2] Ainsi, le vainqueur du courant est un saint qui a pleinement pratiqué la moralité, partiellement la concentration et la sagesse, éradiqué les trois premiers liens et atteint les prémices du fruit. À ce stade, il ne peut éliminer complètement toutes les racines malsaines (akusalamula) telles que l’avidité (loba), la haine (dosa) et l’illusion (moha). Cependant, il fait partie de ceux qui ont éradiqué ces racines, sont entrés dans le courant de la sainteté, ont mené une vie sainte, ont vaincu tout mal, ont atteint le bonheur suprême (parama sukha), le Nirvana, et ne connaîtront aucun déclin.
2. Thánh quả Nhất lai – Tư đà hoàn (Sakadāgāmi)
Thánh quả Nhất lai là quả vị thánh thứ hai trong tứ thánh quả. Sao gọi là nhất lai? Bởi vì thánh quảnày phải còn trở lại một lần sanh tử nữa mới chấm dứt khổ đau, đạt đến quả vị vô sanh. Những ai đoạn tận ba kiết sử như trong trường hợp của Thánh quả dự lưu, và làm muội lược hai kiết sử tiếp theo, đó là, Dục (kāmacchando) và Sân (byāpāda), được gọi là Thánh quả Nhất lai – Tư đà hoàn (Sakadāgāmi). Trường Bộ Kinh định nghĩa: “Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử và làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc Nhứt lai, còn phải sanh lại trong đời này một lần nữa trước khi diệt hẳn khổ đau.”[3]
Với tam vô lậu học, Thánh quả Nhất lai (Once-returner) thực hành trọn vẹn về giới, định hành trì toàn phần, tuệ, hành trì một phần, đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên và làm muội lược tham, sân, si.
- L’étape du Retour Unique – Sakadāgāmi (Sakadāgāmi)
L’étape du Retour Unique est la deuxième des quatre étapes de la sainteté. Pourquoi l’appelle-t-on ainsi ? Parce que cette étape requiert un cycle supplémentaire de naissance et de mort pour mettre fin à la souffrance et atteindre l’état de non-naissance. Ceux qui brisent les trois entraves, comme lors de l’étape de l’Entrée dans le Courant, et qui atténuent les deux suivantes, à savoir le Désir (kāmacchando) et la Colère (byāpāda), sont appelés ceux qui ont atteint l’étape du Retour Unique – Sakadāgāmi. Les Longs Discours définissent : « Un moine qui a brisé les trois chaînes et atténué l’avidité, la haine et l’illusion, atteint l’état de celui qui renaît une fois encore, doit renaître en ce monde avant que la souffrance ne soit complètement éradiquée. »[3]
Grâce aux trois entraînements inconditionnés, celui qui renaît une fois encore atteint l’état de pratique complète de la moralité, de pratique complète de la concentration et de pratique partielle de la sagesse, brisant ainsi les trois premières chaînes et atténuant l’avidité, la haine et l’illusion.
3. Thánh quả Bất lai-A Na Hàm (Anāgami)
Thánh quả Bất lai-A Na Hàm là Thánh quả thứ ba, vị ấy đã đoạn trừ hoàn toàn năm hạ phần kiết sử(orambhagiya saṃyojana), sau khi thân hoại mạng chung sẽ được tái sinh cõi Phạm thiên, và không bao giờ tái sinh trở lại nữa. Đức Phật dạy: “Vị Tỷ-kheo đã đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành vị hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đây, không còn phải trở lại thế giới này nữa.”[4]
Thánh quả bất lai (Non-returner): Thực hành trọn vẹn về giới, định hành trì toàn phần, tuệ hành trìmột phần, đoạn tận năm hạ phần kiết sử được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời này nữa.
Như vậy, bậc A Na Hàm chỉ loại bỏ năm hạ phần kiết sử và đặc biệt là tận diệt ham muốn nhục dục (kāmacchando) và sân (byāpāda), còn ba kiết sử dưới (thân kiến, nghi và giới cấm thủ) đã được loại bỏ từ trước.
- Le stade du non-retour
Le stade du non-retour est le troisième stade de l’éveil. Il correspond à l’éradication complète des cinq chaînes inférieures (orambhagiya saṃyojana). Après la dissolution du corps et la fin de la vie, il renaît dans le royaume de Brahma et ne renaîtra plus jamais. Le Bouddha a enseigné : « Un moine qui a éradiqué les cinq chaînes inférieures devient un être né spontanément, entre ici dans le Nirvana et ne reviendra plus dans ce monde. »[4]
Le stade du non-retour : Une personne qui a pleinement pratiqué la moralité, pleinement pratiqué la concentration, partiellement pratiqué la sagesse, éradiqué les cinq chaînes inférieures, renaît spontanément, entre ici dans le Nirvana et ne reviendra plus dans ce monde. Ainsi, le stade Anāgāmi élimine seulement les cinq entraves inférieures, et éradique en particulier le désir sensuel (kāmacchando) et la colère (byāpāda), tandis que les trois entraves inférieures (vision de soi, doute et adhésion aux préceptes) ont déjà été éliminées au préalable.
4. Thánh quả A La Hán (Arahant)
Sau khi phá luôn năm kiết sử cuối cùng, tức hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo hối và vô minh, một vị A-na-hàm sẽ chứng A-la-hán, nghĩa là đạo đức đã trở thành tuyệt đối hoàn hảo. Không một thần Thánhthiên tử nào có thể tìm thấy lỗi lầm của một vị A-la-hán được nữa.
Với tam vô lậu học, Thánh quả A La Hán (Arahant), thực hành trọn vẹn về giới, định hành trì toàn phần, tuệ hành trì toàn phần đoạn tận 10 kiết sử.
Thanh Tịnh đạo giải thích: “Lý do đắc quả Dự lưu và Nhất lai là Giới, quả Bất hoàn là Định và quả A-la-hán là Tuệ. Vì bậc Dự lưu được gọi là người ‘thành tựu viên mãn các phẩm loại của giới’, bậc Nhất lai cũng vậy, bậc Bất hoàn được gọi là ‘viên mãn định’ và A-la-hán là bậc ‘tuệ viên mãn’.[5] Giải thoáthoàn toàn khổ đau sinh tử luân hồi là bậc A la hán, vị ấy: “sanh đã tận, phạm hạnh dĩ thành, bất thọ hậu hữu.” (‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’)[6]
Nơi đây, đương nhiên một vị A-la-hán cũng đã thành tựu xong bốn mức thiền. Khi công phu tu hànhdần tiến bộ, ta có thể làm suy yếu các kiết sử này, để rồi cuối cùng chế ngự và hủy diệt được chúng ở từng giai đoạn thiền định. Sau mỗi giai đoạn vị ấy đạt đến một tầng cao hơn của sự giác ngộ. Khi chế ngự được ba kiết sử đầu tiên, hành giả đạt được sơ thiền. Làm suy yếu được hai kiết sử kế tiếp, hành giả đạt đến nhị thiền. Tuy nhiên dư phần của dục tham và sân vi tế hơn tất cả những gì đã được diệt bỏ. Khi hành giả cuối cùng vượt qua được các dư phần này, thì đạt đến tam thiền. Năm kiết sử cuối cùng rất vi tế. Khi diệt trừ được chúng, hành giả đạt đến tầng thiền thứ tư và là tầng cuối cùng của giác ngộ (final stage of enlightenment). Tứ thiền và Tứ Thánh quả đều hiện diện đầy đủ nơi vị A-la-hán như thế.
- Le stade de l’Arhat
Après avoir brisé les cinq derniers liens – l’attachement à l’existence, l’attachement au néant, l’orgueil, l’agitation et l’ignorance – l’anāgāmi (au-delà du niveau monastique) atteint le stade d’Arhat, signifiant que sa moralité est devenue absolument parfaite. Aucune divinité ni aucun être céleste ne peut trouver à redire à un Arhat.
Grâce aux trois pratiques irréprochables, le stade de l’Arhat implique la pratique complète de la moralité, la concentration totale et la sagesse absolue, éradiquant ainsi les dix liens.
Le Chemin Pur explique : « La raison d’atteindre les stades de l’Entrée dans le Courant et du Retour Unique est la Moralité, le stade du Non-Retour est la Concentration, et le stade de l’Arhat est la Sagesse. Puisque le stade de l’Entrée dans le Courant est appelé celui qui “parfait toutes les catégories de la moralité”, il en va de même pour le stade du Retour Unique, le stade du Non-Retour est appelé celui qui “parfait la concentration”, et l’Arhat est celui qui “parfait la sagesse”.[5] La libération complète de la souffrance de la naissance, de la mort et de la renaissance est le stade de l’Arhat, qui : “a cessé de naître, a parachevé la vie sainte et ne souffre plus pour l’existence future”. » (« La naissance est détruite, la vie sainte a été vécue, ce qui devait être fait a été fait, il n’y a plus rien à faire dans cet état. »)[6]
Ici, bien sûr, un Arhat a également accompli les quatre étapes de la méditation. À mesure que la pratique progresse, on peut affaiblir ces liens, et finalement les soumettre et les détruire à chaque étape de la méditation. Après chaque étape, on atteint un niveau d’éveil supérieur. Lorsque les trois premiers liens sont soumis, le pratiquant atteint le premier jhana. En affaiblissant les deux liens suivants, il atteint le deuxième jhana. Cependant, les désirs subtils et la colère restants sont plus nombreux que tout ce qui a été éradiqué. Lorsque le pratiquant surmonte finalement ces souillures restantes, il atteint le troisième jhana. Les cinq derniers liens sont très subtils. Lorsqu’ils sont éradiqués, le pratiquant atteint le quatrième et dernier stade d’éveil. Le quatrième jhana et les Quatre Nobles Vérités sont pleinement présents en un tel Arhat.
Trong Trung Bộ kinh đức Phật định nghĩa về Tứ thánh quả qua việc đoạn trừ các lậu hoặc như sau: “Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, này có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo đã đoạn trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ.”[7]
Tất cả của bốn quả vị trên đều có thể xuất nhập trong Thánh quả mà họ đã đạt được một cách dễ dàng. Vị ấy an trụ trong thiền và tận hưởng pháp lạc mà mình đã chứng đạt, hoàn toàn thoát ly mọi tham ái, chấp thủ, nhận chân được rằng tất cả pháp hữu vi là huyển mộng, do vậy không còn tham luyến gì trên đời này nữa.[8]Tứ Thánh quả ấy, Đức Phật gọi là cuộc sống Thánh thiện: “Và này các Tỳ kheo, là hoa trái của đời sống thánh thiện? Thánh quả Dự lưu, Thánh quả Nhất lai, Thánh quả Bất lai, và Thánh quả A La Hán. Chúng được gọi là cuộc sống thánh thiện.”[9]
A La Hán được gọi là Bậc lậu tận:ngoài việc đoạn trừ mười kiết sử như trình bày ở trên, vị A La Háncũng đoạn trừ sạch tất cả các lậu hoặc, bao gồm: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Lậu hoặc (āsava), là những thứ bất tịnh rĩ chảy ra. Nó là yếu tố làm dơ bẩn tâm, trói buộc tâm và nhấn chìm chúng sinhtrong vòng luân hồi sinh tử. Lậu hoặc được đoạn trừ hoàn toàn chỉ diễn ra ở một vị chứng ngộ quả vịA La hán. Một bậc đạt được trạng thái hoàn toàn giải thoát tất cả mọi lậu hoặc được gọi là A La hán, bậc lậu tận. Trong kinh tạng định nghĩa một vị A La Hán như sau: “Thông qua sự đoạn tận tất cả các lậu hoặc (Āsavakkhaya), vị ấy đã đạt đã đạt đến trạng thái của tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chứng đắc lậu tận, tự mình hiểu và nhận ra.”[10]
Dans le Majjhima Nikaya, le Bouddha définit les Quatre Nobles Vérités par l’éradication des souillures comme suit : « Maîtres, parmi ces maîtres, il en est qui sont des Arhats, dont les souillures ont été éradiquées, dont la vie sainte a été perfectionnée, dont les devoirs ont été accomplis, dont les fardeaux ont été déposés, dont les buts ont été atteints, dont les chaînes de l’existence ont été brisées, et qui sont libérés par la connaissance juste. Maîtres, parmi ces maîtres, il en est qui ont éradiqué les cinq chaînes inférieures, qui renaissent, entrent dans le Nirvana et ne reviendront plus dans ce monde. Maîtres, parmi ces maîtres, il en est qui ont éradiqué les trois chaînes supérieures, qui ont diminué l’avidité, la haine et l’illusion, et qui sont ceux qui reviennent une seule fois, après être nés dans ce monde. » « Ceci, une fois encore, mettra fin à la souffrance. De tels moines, ô moines, sont présents dans cette assemblée. Ô moines, dans cette assemblée, il y a des moines qui ont brisé les trois chaînes, qui sont entrés dans le courant, qui ne s’égareront plus sur les voies du mal et qui atteindront assurément l’éveil. »[7]
Chacun des quatre stades mentionnés ci-dessus peut aisément entrer et sortir de la Noble Fruit qu’il a atteinte. Il demeure en méditation et jouit de la félicité du Dharma qu’il a atteint, totalement libéré de tout désir et de tout attachement, réalisant que tous les phénomènes conditionnés sont illusoires et, par conséquent, ne s’attache plus à rien en ce monde.[8] Le Bouddha nomme ces Quatre Nobles Vérités la vie sainte : « Ô moines, quels sont les fruits de la vie sainte ? La Noble Vérité de l’Entrée dans le Courant, la Noble Vérité du Retour Unique, la Noble Vérité du Non-Retour et la Noble Vérité de l’Éveil. Voilà ce qu’on appelle la vie sainte. »[9]
Un Arhat est appelé celui qui a éradiqué les souillures : outre l’éradication des dix chaînes décrites précédemment, un Arhat éradique également toutes les souillures, y compris la souillure du désir, la souillure de l’existence et la souillure de l’ignorance. Les souillures (āsava) sont des impuretés qui s’infiltrent. Ce sont les éléments qui souillent l’esprit, l’enchaînent et plongent les êtres dans le cycle des naissances et des morts. L’éradication complète des souillures ne se produit que chez un Arhat ayant atteint l’Éveil. Un être qui a atteint l’état de libération complète de toutes les souillures est appelé Arhat, celui qui a éradiqué les souillures. Dans les écritures, un Arhat est défini comme suit : « Par l’éradication de toutes les souillures (Āsavakkhaya), il a atteint l’état de libération de l’esprit, la libération de la sagesse, l’accomplissement de l’éradication des souillures, la connaissance de soi et la réalisation. »[10]
Như vậy, bậc A La Hán được xác định không phải là một trong những người chỉ loại bỏ các triền cái, nhưng là một người khi đoạn trừ các lậu hoặc đã trở thành bậc Lậu tận (āsavānaṃkhayā anāsavaṃ). Theo kinh điển truyền thống, bậc Thánh quả Dự Lưu Thất Lai (Sotāpatti), đoạn trừ hoàn toàn kiến lậu; Thánh quả Nhất lai (Anāgāmī), đoạn trừ hoàn toàn dục lậu, và thánh quả A la hán đoạn trừ hoàn toàn tất cả các lậu hoặc (bao gồm dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu).[11]
Thuật ngữ A La Hán ‘là một sự kết hợp của hai từ cụ thể là, ‘ari’ (thù địch) và, ‘hana’ (giết hay phá hủy). Theo bản dịch trung quốc, A la hán có ba nghĩa: nhất phá Tam độc tặc; nhị ứng Nhơn Thiên cúng; Tam lai thế bất sanh. Vị ấy được gọi là ‘tất cả việc cần làm đã làm xong, không còn vướng bận bất cứ điều gì nữa, do đó không còn tái sanh trở lại trên thế gian này nữa.’ A La hán cũng được gọi là Bậc vô học (asekha) khác biệt với các bậc hữu học (sekha) vì họ vẫn phải còn tu học để đạt đến ‘vô học’.
A-la-hán được gọi là Sandhicchedo, nghĩa đen, người đã phá dỡ nhà, nghĩa là người đã chặt đứt mọi ràng buộc, tức là người đã phá tan căn nhà do tham ái thiết kế và do nghiệp xây dựng. Do vậy, Sau khi chứng đắc lậu tận trí dưới cội bồ đề, Đức Phật đã thốt lên bài kệ pháp với ý nghĩa tương tự: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng lên cũng bị phá tan! Như Laiđã chứng quả vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục” (Kinh Pháp Cú)
A-la-hán cũng được gọi là Hatāvakāso, nghĩa đen, người bỏ lỡ mọi cơ hội hay những dịp may có thể được lợi v.v… Bởi lẽ các Bậc A-la-hán không tạo cơ hội cho sự kéo dài mãi của hệ lụy, nên các Ngài được gọi là người hủy diệt mọi cơ hội. Sau khi đã tẩy trừ mọi tham ái bằng đạo tuệ Siêu Thế cao nhất (A-la-hán đạo), và nhờ đó trở thành một Bậc không tin tưởng mù quáng, Bậc thông hiểu vô sanh, Bậc phá hủy ngôi nhà gọi là luân hồi, và Bậc đã giết chết mọi cơ hội; vị ấy xứng đáng là Bậc tối thượng nhân (Uttamapuriso), Bậc vô dục (Vitaraga), tức là người không còn đi tìm bất cứ cái gì để làm thỏa mãn các giác quan.[12]
Ainsi, un Arhat n’est pas défini comme celui qui se contente d’éliminer les obstacles, mais comme celui qui, en éradiquant les souillures, devient lui-même purifié de toute souillure (āsavānaṃkhayā anāsavaṃ). Selon les écritures traditionnelles, celui qui entre dans le courant (Sotāpatti) éradique complètement la souillure des vues ; celui qui revient une fois (Anāgāmī) éradique complètement la souillure du désir ; et l’Arhat éradique complètement toutes les souillures (y compris la souillure du désir, la souillure de l’existence, la souillure des vues et la souillure de l’ignorance).[11]
Le terme Arhat est la combinaison de deux mots spécifiques : « ari » (ennemi) et « hana » (tuer ou détruire). Selon la traduction chinoise, Arhat a trois significations : premièrement, détruire les Trois Poisons ; deuxièmement, recevoir des offrandes des humains et des dieux ; Troisièmement, il ne renaîtra plus dans ce monde. On dit qu’il a « accompli toutes les tâches nécessaires, n’est plus encombré de rien et, par conséquent, ne renaîtra plus dans ce monde ». Les Arhats sont également appelés « Asekhanas » (non-apprenants), par opposition aux « Sekhas » (apprenants), car ils doivent poursuivre leurs études pour atteindre le statut de « non-apprenant ».
Un Arhat est appelé Sandhicchedo, ce qui signifie littéralement « celui qui démolit la maison », c’est-à-dire celui qui a rompu tous les liens, autrement dit, celui qui a détruit la demeure conçue par le désir et bâtie par le karma. Ainsi, après avoir atteint la cessation des souillures sous l’arbre de la Bodhi, le Bouddha prononça un verset du Dharma de sens similaire : « Au fil de nombreuses vies dans le cycle des renaissances, le Tathagata erra sans cesse. Il chercha en vain le bâtisseur de cette demeure. La répétition des vies est véritablement pénible. Ô bâtisseur de la maison, le Tathagata t’a trouvé. Désormais, tu ne bâtiras plus de maison pour le Tathagata. Toutes les poutres sont brisées, la poutre faîtière que tu as érigée est détruite ! Le Tathagata a atteint le fruit de la non-naissance et de la non-mort, et il a éradiqué tous les désirs. » (Dhammapada)
L’Arhat est aussi appelé Hatāvakāso, ce qui signifie littéralement celui qui manque toutes les occasions ou chances qui pourraient être bénéfiques. Puisque les Arhats ne créent pas d’occasions susceptibles de perpétuer les conséquences de leurs actes, on les appelle les destructeurs de toutes les opportunités. Après avoir éradiqué tout désir par la sagesse supramondaine suprême (la voie de l’Arhat), et être ainsi devenu un croyant lucide, ayant acquis la compréhension de la non-naissance, un destructeur du cycle des renaissances appelé samsara et un anéantisseur de toutes les opportunités, il est digne d’être appelé l’être suprême (Uttamapuriso), l’être sans désir (Vitaraga), c’est-à-dire celui qui ne cherche plus rien pour satisfaire les sens.[12]
Đức Phật cũng là bậc A La Hán, nhưng là A La Hán chánh đẳng giác. Ngài đã đoạn tận mọi lậu hoặc. Tưng Ưng Bộ Kinh III, phẩm ‘Tham Luyến’, phần ‘Chánh Đẳng giác’ định nghĩa: “Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác.”[13]
Theo Bhikkhu Bodhi, Phật giáo Bắc tạng có sự phân biệt lớn giữa quả vị A la hán và Phật. Nhưng trong kinh tạng Pāli sự khác biệt này là không nhiều. Một mặt, Đức Phật là một vị A la hán, như là điều hiển nhiên từ câu tiêu chuẩn của sự kính trọng với Đức Thế Tôn (iti pi so bhagavā araham sammā sambuddho …); mặt khác, vị A La Hán là Phật, trong ý nghĩa rằng vị ấy đã đạt tới sự toàn giác, tam miệu tam bồ đề (Sambodhi), bằng cách giác ngộ các chân lý tương tự mà chính Đức Phậtđã nhận ra. Có sự khác biệt nhỏ ở đây là giữa thuật ngữ Tam Miệu Tam Bồ Đề (Sambuddha Samma) và Thế Tôn Chánh Đẳng Chánh Giác. Một vị A la hán đã đạt được giác ngộ và giải thoát như một người đệ tử (savaka) của một vị Phật Hoàn Hảo Giác Ngộ. Và vị Phật là người phát hiện ra con đường giác ngộ ấy rồi chỉ dạy cho hàng đệ tử tuân thủ thực hành theo. Tuy nhiên, để tránh sự phức tạp thêm, chúng ta nên phân biệt về mặt giải thoát chứng đắc và tuệ giác giữa một vị Phật và A la hán.
Về mặt giải thoát, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Giác. Những điều này, tuy nhiên, những khía cạnh của con đường mà Đức Phật đã hoàn thành chung với các đệ tử A La Hán. Tức đồng đẳng về mặt giải thoát.
Kinh tạng Nikāya đề cập đến sự khác biệt như giữa Như Lai Thế tôn, các vị A La Hán, là “Một bậc Thế Tôn Giác Ngộ’ và ‘một Tỷ kheo giải thoát bởi trí tuệ’: Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.”
Le Bouddha était également un Arhat, mais un Arhat pleinement éveillé. Il avait éradiqué toutes les souillures. Le Samyutta Nikaya III, chapitre « L’attachement », section « L’éveil complet », définit : « Le Tathagata, ô moines, est un Arhat, un être pleinement éveillé, qui, en abandonnant l’attachement, en abandonnant le désir et en éradiquant la forme, est appelé le Libéré, sans attachement, un être pleinement éveillé. »[13]
Selon Bhikkhu Bodhi, le bouddhisme mahayana établit une distinction importante entre l’état d’arhat et celui de bouddha. Cependant, dans le Canon Pali, cette distinction est moins marquée. D’une part, le bouddha est un arhat, comme l’atteste la formule de vénération habituelle (iti pi so bhagavā araham sammā sambuddho…) ; d’autre part, un arhat est un bouddha en ce sens qu’il a atteint l’éveil complet, le sambuddhi, en réalisant les mêmes vérités que le bouddha lui-même. Il existe une légère différence entre le terme sambuddha samma et l’état de l’Être parfaitement éveillé. Un arhat a atteint l’éveil et la libération en tant que disciple (savaka) d’un bouddha parfaitement éveillé. Le bouddha est celui qui a découvert la voie de l’éveil et l’a enseignée à ses disciples. Toutefois, pour éviter toute complexité supplémentaire, il convient de distinguer la libération et la sagesse atteintes par un bouddha et celles atteintes par un arhat.
En matière de libération, tous les Arhats, tous les Êtres Parfaitement Éveillés du passé, tous ces Bouddhas, ont éradiqué les Cinq Obstacles, ces souillures qui affaiblissent la sagesse, ont établi leur esprit dans les Quatre Fondements de la Pleine Conscience, ont véritablement cultivé les Sept Facteurs de l’Éveil et ont atteint l’Éveil Suprême Parfait. Cependant, il s’agit là d’aspects du chemin que le Bouddha a accompli avec ses disciples Arhats. Autrement dit, ils sont égaux en termes de libération.
Les écritures du Nikaya mentionnent la différence entre le Tathagata, le Bouddha et les Arhats, en les qualifiant de « Bouddha Éveillé » et de « moine libéré par la sagesse » : « Moines, voici la différence, la distinction, la distinction entre le Tathagata, l’Arhat, l’Être Parfaitement Éveillé et le moine libéré par la sagesse. »
Một vị Phật có chức năng phát hiện và giảng giải con đường mà mình đã chứng ngộ. Vị ấy đã chứng ngộ giáo lý thậm thâm vi diệu và giảng dạy sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp cho chúng đệ tử. Tức chư vị đệ tử điều dưới sự hướng dẫn của Phật.[14]
Thế Tôn phân biệt sự khác biệt giữa Thế Tôn và các đệ tử A-la-hán như vầy: “Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn này, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).”[15]
Tóm lại, theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, Tứ quả Thanh văn mà đỉnh cao nhất là thánh quảA La Hán là quả vị tu chứng cuối cùng và là mục tiêu cuối cùng trên lộ trình tu tập giải thoát. Trong khi đó, truyền thống Phật giáo Bắc tạng cho rằng, Phật quả hay quả vị Phật mới là mục tiêu cuối cùng. Lộ trình tu hành đến Phật quả phải ngang qua con đường thực hành Bồ tát đạo, mà cụ thể là Lục độ ba la mật. Đây là sự khác biệt cơ bản nhất giữa hai truyền thống Nam tạng và Bắc tạng. Mục đích của Phật giáo là đoạn tận khổ đau và chứng đắc thánh quả giải thoát. Kinh tạng Pāli đưa ra một biểu đồ cụ thể đó là mười kiết sử và các lậu hoặc được đoạn trừ dần thông qua việc áp dụng Tam vô lậu học giới, định tuệ, giúp cho hành giả nắm bắt vững chắc mục tiêu và pháp hành để đạt đến mục tiêu. Từ đó, việc thẩm định các mức độ thánh quả là rất rõ ràng, và minh bạch. Hành giả có thể tự mình kiểm nghiệm, xem mình đã đoạn trừ được những kiết sử, lậu hoặc nào, từ đó biết được cấp độ tu trì của mình đến đâu trên lộ trình tu học giải thoát, giác ngộ.
Le Bouddha a pour fonction de révéler et d’expliquer la voie qu’il a atteinte. Il a atteint des enseignements profonds et subtils qu’il transmet à ses disciples. Autrement dit, tous les disciples sont sous la guidance du Bouddha.[14]
Le Bouddha établit ainsi la distinction entre lui-même et ses disciples Arhats : « Ô moines, le Tathagata est un Arhat, un Être parfaitement Éveillé, qui révèle une voie inédite, qui proclame une voie inédite, qui connaît la voie, qui la comprend, qui la maîtrise. Mais, ô moines, les disciples sont ceux qui vivent selon la voie, qui continuent de la pratiquer. »[15]
En résumé, selon la tradition bouddhiste Theravada, les quatre étapes de l’Arhatship, dont la plus élevée est l’Arhatship lui-même, constituent l’étape finale de la réalisation et le but ultime sur le chemin de la libération. Parallèlement, la tradition bouddhiste du Nord considère l’Éveil comme le but ultime. Le chemin vers l’Éveil passe nécessairement par la pratique de la voie du Bodhisattva, et plus précisément par les Six Perfections (Paramitas). C’est là la différence fondamentale entre les traditions du Sud et du Nord. Le but du bouddhisme est d’éradiquer la souffrance et d’atteindre la libération. Le Canon Pali propose un schéma précis illustrant les dix entraves et souillures qui sont progressivement éliminées par l’application des Trois Entraînements Purs (moralité, concentration et sagesse), permettant ainsi aux pratiquants de saisir pleinement le but et la pratique pour l’atteindre. Dès lors, l’évaluation des niveaux d’éveil devient limpide. Les pratiquants peuvent s’examiner pour identifier les souillures et impuretés qu’ils ont éliminées, et ainsi connaître leur niveau de pratique sur le chemin de la libération et de l’éveil.
Thích Trung Định