Ý nghĩa Vu Lan – Báo Hiếu
Mùa hiếu hạnh lại đến, gợi lên cảm xúc trào dâng về mẹ cha – những người đã tạo tác ra ta, cho ta vóc hình, sự nghiệp. Dù bạn là ai, người nông phu hay bậc quyền cao chức trọng thì điểm gặp gỡ giữa chúng ta là tinh thần báo hiếu đang tuôn trào trong dòng nhiệt huyết của con tim.
Trong cung bậc tri ân và báo ân của dân tộc, Phật giáo đã từ lâu luôn trân trọng và lấy hạnh hiếu làm đầu. Sự tương phùng của tinh thần đó đã dẫn dắt nên những gương hiếu hạnh trong quá khứ cũng như hiện tại, sáng rực và ghi mãi dấu ấn với thời gian. Không phải ngẫu nhiên, cứ đến ngày rằm tháng bảy âm lịch hằng năm, giới Phật Giáo long trọng tổ chức đại lễ Vu lan – Báo hiếu thật trang nghiêm, hoành tráng từ hình thức tổ chức cho đến nội dung mang ý nghĩa nhân văn trên bình diện tâm linh – văn hóa của con người. Lễ hội xuất phát từ điển tích Phật giáo được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn.
– “Vu Lan” là danh từ gọi tắt của “Vu Lan Bồn”, tiếng Phạn là Ullambana. “Ullam” dịch là “treo ngược” (đảo huyền), dụ cho cái khổ của người chết như bị treo ngược, cực kỳ thống khổ. Chữ “bồn” tiếng Phạn là “bana”, dịch là “cứu giúp”. Như vậy “Vu Lan Bồn” là giải cứu tội bị treo ngược.
– “Báo hiếu” là sự đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ hiện tiền và cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp.
Lễ Vu Lan của Phật giáo như chúng ta thấy ngày nay phát xuất từ thời Đức Phật. Bằng đại bi tâm, Đức Phật đã dạy phương thức báo hiếu cho cha mẹ ở đời này và nhiều đời khác. Người đầu tiên tiếp nhận không ai khác là Tôn giả Mục Kiền Liên. Tôn giả là một trong mười vị đệ tử xuất chúng của Thế Tôn. Khi Mục Kiền Liên vừa chứng được lục thông, liền nhớ tới mẹ mình, Tôn giả bèn dùng tuệ nhãn kiếm tìm, liền thấy mẹ đang ở trong loài ngạ quỷ hết sức đói khổ. Thương mẹ vô vàn, Ngài đã vận dụng thần thông xuống cõi ngạ quỷ dâng bát cơm đầy cho mẹ. Do tâm bà Thanh Đề còn quá san tham và ác nghiệp thọ báo còn quá nặng nề nên bà không thể dùng cơm vì bát cơm biến thành lửa. Vô cùng đau đớn, không biết dùng cách nào để cứu mẹ mình, Ngài liền về hỏi đức Thế Tôn. Đức Phật liền dạy :
” Tội lỗi của mẹ ngươi dù có dùng thần thông phép lạ của hàng thiên thần địa kỳ cũng không cứu được, duy chỉ nhờ thần lực của chúng Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ, tin tấn tu hành thanh tịnh, tập trung chú nguyện mới có thể chuyển hóa được nghiệp lực, mẹ ngươi mới thoát được cảnh khổ”.
Nghe vậy, Tôn giả mục Kiền Liên liền khẩn cầu Thế Tôn :
“Bạch Thế Tôn, con nay làm sao mời được chư Tăng mười phương cúng dường một lúc như vậy được ?”.
Đức Phật dạy :”Ngày Vu Lan cũng là ngày Tự Tứ của chư Tăng, ông nên sắm các thứ cúng dường trong ngày Tự Tứ. Ngày đó dù các vị ở trong thiền định hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tập trung lại để Tự Tứ và cầu nguyện cho mẹ người được thoát khổ”.
Tôn giả thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, và chính ngay trong ngày đó mẹ Tôn giả thoát được cảnh khổ ngạ qủy mà được sanh lên cõi trời. Tôn giả vô cùng hoan hỷ và thỉnh cầu : “Sau này có chúng sanh nào muốn phát tâm hiếu để cầu nguyện cho cha mẹ thoát khổ được vui, họ có được làm như con không?”.
Thế Tôn bảo rằng : “Có thể được làm như vậy trong ngày Tự tứ để cha mẹ đời này và nhiều đời được siêu độ giải thoát”.
Từ đó trong Phật giáo truyền lại một pháp thức cứu độ cho các bậc tiền nhân quá vãng siêu thoát về cảnh giới an lành, được thực hiện trong ngày Vu Lan – Tự Tứ. Vào những ngày này, dù bạn là ai, ở đâu cũng ước muốn được đến chùa để tham dự lễ Vu Lan – Báo Hiếu, thắp một nén hương lòng cầu nguyện cho cha mẹ hoặc đời này hay nhiều đời được siêu độ, còn người đang hiện hữu nhờ công đức này mà an lành hạnh phúc trong cuộc sống nhân sinh.
Kể từ khi Phật Giáo truyền vào Việt Nam, mùa Vu Lan trở thành truyền thống báo hiếu. Ngày nay, lễ Vu Lan không còn đơn thuần chỉ có ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng mà đã trở thành “lễ hội văn hóa tình người” với bất cứ ai đang hiện hữu trên cõi đời này. Hiếu kính mẹ cha, phụng thờ tổ tiên ông bà, nối kết ân tình nghĩa cảm giữa người còn kẻ mất là truyền thống cao đẹp trong dòng chảy văn hóa tình người của dân tộc.
Một nét đẹp trong ngày Vu lan là chương trình bông hồng cài áo. Trong buổi lễ thiêng liêng ấy, ai còn cha mẹ sẽ sung sướng được cài lên ngực áo một đoá hoa hồng, ai mất mẹ lại buồn tủi cài lên ngực đoá hồng trắng buồn thương. Thế nhưng dù còn cha mẹ hay đã mất thì mỗi người con lúc này đang dâng lên một tình cảm biết ơn mẹ cha sâu lắng, và mỗi người tâm niệm sẽ sống hết lòng với bổn phận làm con hiếu của mình.
Chúng ta hiểu vì sao mà bổn phận làm con phải biết báo hiếu ? Bất cứ ai hiện hữu trên đời, trước hết phải được mẹ mang nặng đẻ đau : “Chín tháng cưu mang, nặng nhọc như đội núi; đêm đêm như bệnh nặng, ngày ngày tợ hoàng hôn; trong khi sinh nở, gan ruột dường như xé rách, đau đớn mê man, máu huyết dầm dề” (Kinh Báo Ân). Sanh con ra cha mẹ đã khổ nhọc, để nuôi con khôn lớn lại chịu khổ nhọc hơn, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn, thậm chí vì con mà phải làm ác. Con là vàng ngọc, là giọt máu của cha mẹ chia hai, nên dẫu con thế nào cha mẹ vẫn thương con. Tình thương đó “có dừng lại chăng, chỉ hơi thở sau cùng”. (Kinh Báo Ân). Ơn sanh thành của cha mẹ thật bao la, cao như núi và rộng như biển, cha mẹ là đôi vầng nhật nguyệt sưởi ấm và sáng soi đời con: “Mẹ còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng, mẹ khuất bóng rồi gọi là mặt trời đã lặn”(Kinh Tâm Địa Quán). Trong cuộc sống, không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn cha mẹ, và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của kẻ mồ côi. Hình ảnh người cha lao động cần mẫn sớm hôm, người mẹ dịu hiền chăm chút các con từng miếng ăn, giấc ngủ, đã từng và mãi mãi là những cung bậc êm đềm của bài hợp xướng gia đình. Căn bản đạo đức cũng bắt đầu từ sự giáo dục gia đình, vì cha mẹ là chuẩn mực của các con từ lúc còn thơ ấu. Mãi mãi về sau, dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng thấy cha mẹ là chổ dựa tinh thần vững chắc. Có thể lúc ta thành công trong sự nghiệp hay hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi thì ta không cảm nhận rõ điều này, nhưng khi gặp cảnh ngộ không may, khi bị sống đời vùi dập tơi tả, khi hoàn toàn mất hết niềm tin đối với người chung quanh, ta mới chợt hiểu rằng, nơi một gốc trời xa yêu dấu, cha mẹ vẫn là chiếc nôi ấm cho mình ru giấc ngủ sâu, là vòng tay êm xóa tan hết nơi mình mọi buồn đau hận tủi. Ân sủng thiêng liêng ấy, tình cảm bao la bất tận ấy, ta có thể tìm được nơi đâu, ngoài cha mẹ của mình?
Nói về đạo hiếu, kinh điển Phật giáo đề cập đến rất nhiều, ngoài kinh Vu Lan Bồn ra, còn có một số kinh khác như kinh Nhẫn Nhục, Đại Tập, Tứ Thập Nhị Chương, A Hàm, Tăng Chi … lời lẽ rất thống thiết, sinh động, để lại dấu ấn tâm linh cho người đọc thực thi đạo sống làm người. Ngay trong bản kinh Tứ Thập Nhị Chương đã trình bày rõ quan điểm : “Phàm làm người phụng thờ qủy thần, không bằng phụng thờ cha mẹ, cha mẹ là vị thần tối thượng”. Còn kinh Đại Tập nói rằng: “Nếu ở đời không có Phật thì hãy theo phụng thờ cha mẹ cũng như phụng thờ Phật”. Phụng dưỡng cha mẹ là một sứ mệnh thiêng liêng, vượt lên trách nhiệm và bổn phận. Hiếu dưỡng cha mẹ bằng cách kính thuận năm điều: “Nuôi dưỡng cha mẹ; làm đủ bổn phận con cái đối với cha mẹ; giữ gìn gia đình và truyền thốn; bảo vệ tài sản thừa tự; làm tang lễ khi cha mẹ qua đời” (Kinh Giáo ThọThi La Ca Việt). Kính thờ cha mẹ, con cái phải làm tròn năm việc: “Phải lo sanh kế; dậy sớm lo cơm nước cho cha mẹ kịp thời; không nên làm cha mẹ thêm lo; phải nhớ ơn cha mẹ; khi cha mẹ có bệnh phải lo sợ chạy chữa kịp thời” (Kinh Lục Phương Lễ). Dù nổ lực để tận hiếu nhưng công ơn cha mẹ vô thượng thậm thâm thật khó đáp đền. Trong kinh Tăng Chi I, Đức Phật dạy “Có hai hạng người, này các Tỷ kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến khi các người 100 tuổi. Nếu đấm bóp, tắm rửa, và dầu tại đấy họ có vãi đại tiểu tiện, như vậy cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha”. Những cách báo hiếu trên tuy xem ra cũng cao cả và không phải người con nào cũng hiểu và làm được trọn vẹn. Thế nhưng theo như những gì Đức Phật dạy thì sự báo ân như vậy vẫn chưa trả đủ công ơn cha mẹ. Công ơn cha mẹ to lớn như thế, bổn phận con cái phải làm thế nào mới tròn câu hiếu đạo?
Hiếu đạo theo Phật giáo, nếu chỉ phụng dưỡng song thân đầy đủ vật chất cùng tất cả sự cung kính thì chưa đủ để báo ân cha mẹ. Người con hiếu, ngoài hiếu dưỡng thông thường phải hướng cha mẹ trở về an trú trong chánh pháp. Kinh Tăng Chi, Phật dạy : “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với các của cải, đồ ăn, tiền bạc thì không bao giờ đủ để trả ơn cha me. Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện giới ; đối với cha mẹ san tham, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí ; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha, là chân thật báo ân”. Khuyến hóa cha mẹ trở về chánh pháp để tránh đọa lạc là cách báo hiếu trọn vẹn, bởi “Cúng dường cha mẹ không bằng khuyên cha mẹ làm việc lành, bỏ việc ác. Nếu không thể cải hóa cha mẹ phụng trì Tam bảo thời tuy có hiếu dưỡng cha mẹ cũng gọi là bất hiếu. Cha mẹ hung ngược, dâm dật, tà ngụy, trái đạo … người con phải hết sức ngăn cản mới gọi là hiếu” (Kinh Hiếu Tử). Khi cha mẹ qúa vãng, Phật dạy : “Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, ngay Tăng Tự Tứ, thiết lễ cúng dường mười phương chúng Tăng, nguyện cho cha mẹ hiện đời phước thọ tăng long, cha mẹ bảy đời thoát khổ ngạ qủy, được sanh vào trời người hưởng phước lạc vô cùng” (Kinh Vu Lan Bồn). Như vậy bổn phận con cái đối với cha mẹ thì ngoài việc dâng cúng những điều kiện về mặt vật chất là lẽ tất nhiên, thế nhưng sẽ có ý nghĩa hơn nếu như con cái biết hướng cha mẹ quy ngưỡng Tam Bảo, biết bố thí cúng dường, bỏ việc ác, làm các điều thiện. Mặt khác vì do công lao sanh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái như trời như biển cho nên không thể lấy của cải vật chất bù đắp được. Vả lại, mọi của cải vật chất trên thế gian này đều tạm bợ, vô thường, biến hoại, không có giá trị trường cửu, do đó, nếu như khuyến khích cha mẹ có lòng tin, làm điều lành, sống theo chánh kiến, đó là hành động báo hiếu có ý nghĩa nhất. Bởi vì nếu ai thực hiện được như vậy thì cha mẹ của họ sẽ tăng phước, tăng thọ, an vui trong cuộc sống hiện tại mà đời sau cũng được thọ hưởng các quả báo tốt đẹp.
Hiếu dưỡng không chỉ báo đền ân đức cho cha mẹ mà chính người con cũng được tăng trưởng phước đức: “Cúng dường cha mẹ dù một chút ít cũng được phước đức vô lượng” (Kinh Tạp Bảo Tạng). Gia đình có con cháu hiếu thảo được Phật ca ngợi phước báu ngang hàng với Phạm thiên, xứng đáng được cúng dường. Kinh Tăng Chi, Phật dạy: “Những gia đình nào trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ , những gia đình ấy được chấp nhận ngang hàng bằng với Phạm thiên, được chấp nhận là đáng được cúng dường”. Chính Sakkha (Đế Thích) nhờ hiếu thảo với cha mẹ mà được phước báo thiên chủ, làm vua cõi trời Tam Thập Tam Thiên. Điều này trong kinh Tương Ưng, đức Phật bảo Mahàli : “Này Mahàli, thuở xưa khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thực hành bảy cấm giới túc : hiếu dưỡng với cha mẹ, kính trọng các bậc gia trưởng … Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakkha được địa vị Thiên chủ”. Kinh Hiền Ngu, Phật dạy: “Công đức hiếu thuận cha mẹ thù thắng khôn lường, nhờ công đức này trên làm Thiên đế, dưới làm Thánh vương cho đến thành Phật, được ba cõi tôn kính đều là do phước đức này vậy”.
Nếu như con cái sống hiếu dưỡng với mẹ cha tạo phước đức vô lượng chừng nào thì bất hiếu là tội lớn nhất chừng đó. Chúng sanh phần nhiều vì nghiệp chướng che mờ tâm trí nên bất hiếu nhiều hơn hiếu thảo. Đức Phật xác định: “Điều ác nhất không gì hơn bất hiếu” (Kinh Nhẫn Nhục). Giết hại cha mẹ là tội nặng nhất, rơi vào địa ngục không thể cứu chữa. Đã có nhiều người con giàu sang phú qúy nhưng cha mẹ vẫn ở túp lều tranh, nhiều người cơm ăn áo mặc đầy tràn nhưng cha mẹ vẫn áo quần tả tơi, bươn chãi từng ngày để lo sinh kế, thậm chí đã có những người con có những hành động mất tính người như chửi mắng cha mẹ, đánh đập cha mẹ và nhan nhãn những bài báo đăng tin con cái giết cha mẹ … Thật đau lòng thay! Cha mẹ gian lao khổ cực làm lụng nuôi đàn con khôn lớn, thế nhưng đàn con không nuôi nổi cha mẹ, bạc đãi cha mẹ. Nhân nào quả đó, rồi đến lúc những đứa con bất hiếu này lại bị con cái của họ đối xử tệ bạc lại với họ. Khi đó dù họ có hối hận cũng đã muộn rồi, chỉ còn con đường vào địa ngục đang mở cửa đón chờ họ ở phía trước.
Nói đến gương hiếu hạnh thì trước hết chúng ta phải kể đến Đức Phật Thích Ca là bậc đã thể hiện trọn vẹn tinh thần hiếu đạo. Sau ngày thành đạo, tưởng niệm công ơn sanh thành như trời biển của thân mẫu, Ngài đã nhiều lần lên cung trời đao lợi thuyết pháp cho mẹ nghe. Hoàng hậu Ma Gia cùng với các vị thiên tử từ cung trời Dạ Ma xuống cung trời Đao Lợi để nghe đức Phật thuyết pháp và chứng đắc được sơ quả Tu Đà Hoàn. Đối với vua Tịnh Phạn, Ngài cũng thể hiện là một người con rất mực hiếu đạo khi còn ở hoàng cung. Và sau ngày thành đạo, Ngài đã nhiều lần trở về cố hương thăm thân phụ, đồng thời thuyết pháp khuyến khích vua cha phát tâm quy y Tam bảo. Nhờ sự giáo hóa của đức Phật, vua tịnh Phạn đã trở thành một người Phật tử thuần thành. Cảm động nhất là đêm cuối cùng trước khi đức vua băng hà, Ngài đã ở trong cung suốt đêm thuyết pháp cho thân phụ khiến vua cha chứng được quả A Na Hàm. Và chính đức Phật đã đích thân khiêng linh cửu vua đến nơi trà tỳ.
Trong lịch sử Việt Nam đã có ghi nhiều tấm gương tiêu biểu như vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đã bãi dịp Trung nguyên yến ẩm chúc tụng của bách quan đối với mình để làm lễ Vu Lan Bồn cầu siêu cho mẹ đúng như ý nghĩa Phật giáo. Sử cũng chép về vua Tự Đức (1829-1882), rằng một hôm vua đi bắn chim ở vùng Thuận Trực, An Nong, gặp nước lũ, thuyền vua về chậm, thái hậu sai quân đem thuyền đi đón. Về đến Thương Bạc, vua vội vã về cung, chỉnh trang y phục, sang chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, ngồi xây mặt vào vách, vua Tự Đức tự nằm xuống, gác cây roi mây trên lưng mình chịu tội. Thái hậu quay mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt đêm để phê tấu chuẩn. Từ đó về sau vua không còn bỏ bê việc triều chính nữa.
Khi đặt vấn đề chữ hiếu trong cuộc sống hiện đại, có nhiều người tròn mắt ngạc nhiên vì cho rằng liệu điều đó có còn chân thật không? Liệu có khó quá để theo đuổi một hình thức gia đình kiểu cổ xưa ấy không … Nhưng điều may mắn là đâu đó vẫn lấp lánh những tấm gương hiếu thảo nổi lên giữa cuộc sống hiện đại này. Anh Nguyễn Thanh, sau một thời gian dài đi du học, tìm được một việc làm ổn định trong một công ty đa quốc gia. Một người học trường Tây, làm việc cho Tây như thế nhưng ở Nguyễn Thanh, niềm yêu mẹ gần như trở thành một thứ “đạo” . Anh làm việc đến 21 giờ hằng đêm mới nghỉ, thế mà mỗi ngày đều dành thời gian chạy về đón mẹ đi làm về. Đều đặn như thế mấy năm. Và những khi biết sân khấu nào có vở kịch mới, rạp nào có phim hay, Thanh lại mua vé về cho mẹ đi xem. Có hôm vừa ăn cơm với bạn xong, nhưng mẹ gọi điện bảo về ăn cơm thì vội vã “vâng ạ, con đang đói đây, sẽ về ăn cơm với mẹ ngay”. Thanh tâm sự : “Sở dĩ mình có thói quen gần như thành lệ như thế là vì trong lòng lúc nào cũng muốn bù đắp chút gì cho mẹ, bởi mẹ đã chịu nhiều trống vắng khi công việc của ba mình là phải xa gia đình thường xuyên.
Một trường hợp điển hình nữa là trường hợp anh H. Long, tuổi đã 35, với cuộc sống gia đình vợ con bề bộn và công việc của một kỹ sư xây dựng, anh vốn không có nhiều thời gian chăm sóc cha. Mẹ đã mất từ lâu, anh dồn tình thương cho người cha già yếu bắng cách thu xếp qủy thời gian eo hẹp của mình để về bên cha. Người cha già lắm, đang phải ngồi xe lăn vì không thể đi lại được. Và bà con ở Gò Vấp vẫn quen thuộc với hình ảnh anh kỹ sư thường đẩy xe lăn cho cha đi dạo. Anh tâm sự: “Để cho cha được nhìn thấy cuộc sống, hít thở bầu không khí trong lành, thoát khỏi cảnh chật chội của gia đình và nhất là để cho cha khỏi buồn”. Quan niệm của anh về hiếu thảo là một suy nghĩ bình thường, với anh không phải là điều quá lớn lao. Hiếu thảo tức là biết chăm sóc cha mẹ, thương yêu cha mẹ như chính cha mẹ đã thương yêu mình và đừng làm cho cha mẹ buồn lòng.
Phong tục Việt Nam còn giữ lại nét đẹp truyền thống phương Đông, cha mẹ sống sum vầy cùng con cháu, có gia đình cả bốn đời cùng ở chung một nhà, gọi là tam tứ đại đồng đường. Các nước phương Tây lại khác, thường thích sống độc lập, con cái đến tuổi trưởng thành là ra ở riêng. Cha mẹ già được đưa vào nhà dưỡng lão, tuy vật chất đầy đủ nhưng tình cảm không được thắm thiết. Nhiều người già được bảo lãnh theo diện đoàn tụ, qua ở một thời gian đã thấy nhớ quê hương da diết, không hòa nhập với cuộc sống xứ người. Nhất là những gia đình đã thâm nhập trong cuộc sống hiện đại, mỗi người là một ốc đảo, sự liên hệ giữa các thành viên không được khắng khít, từ đấy mà tình cảm đối với người trưởng thượng cũng không còn được thiêng liêng, người già càng mang mặc cảm tủi buồn của một kẻ sống thừa ăn bám. Thật ra người già có rất ít nhu cầu vật chất, nhưng nhu cầu về tình cảm lại nhiều. Nếu không hiểu rõ điều này để khéo cư xử thì chúng ta có thể vô tình làm các người buồn giận, khiến tuổi xế chiều càng ảm đạm hơn.
Đối với người cư sĩ tại gia, nếu cha mẹ còn sinh tiền là một phước duyên rất lớn, vì cha mẹ là phước điền thế gian. Chúng ta cố gắng làm cho cha mẹ hài lòng, vui sống trong những ngày còn lại của cuộc đời về cả ba phương diện vật chất, tinh thần và tâm linh. Về vật chất, chúng ta chăm lo cho cha mẹ theo khả năng của mình, thuốc thang chu đáo khi các người đau yếu. Về tinh thần chúng ta khéo léo hòa hợp, dạy dỗ con cái biết kính trọng thương yêu ông bà. Bởi lẽ người già thường cảm thấy cô độc, hay tủi thân, đôi khi có những quan điểm bảo thủ hơi lạc hậu, chúng ta nên cảm thông trân trọng và thường xuyên quan tâm gần gủi. Về tâm linh, chúng ta hướng cha mẹ vào con đường hiền thiện, quy y Tam bảo, giữ gìn giới cấm. Nếu cha mẹ đã là Phật tử, chúng ta tạo điều kiện cho các người đi chùa nghe pháp, gần gũi các bậc tôn túc, sách tấn cha mẹ thực hành pháp tu đã chọn. Nếu cha mẹ chưa hiểu gì về đạo pháp, lại thường tạo ác nghiệp thì chúng ta hết sức kiên nhẫn, khéo léo khuyên giải cha mẹ trở về với chánh kiến. Bên cạnh đó bản thân con cái cũng phải làm nhiều phước thiện, nổ lực tu hành để hồi hướng công đức chuyển đổi tâm cha mẹ. Những lúc cha mẹ ốm đau, đức Phật dạy con cái nên thực hành trai giới, bố thí, phóng sinh và tụng kinh cầu an. Khi cha mẹ mất, đức Phật dạy con cái nếu muốn báo ơn cha mẹ thì thất thất trai tuần phải bố thí, phóng sinh, tụng kinh cầu nguyện cho vong linh cha mẹ được siêu thoát (Kinh Di Đà, Kinh Địa Tạng). Sau 49 ngày con cái vẫn tiếp tục báo hiếu cho cha mẹ. Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, với lễ vu Lan Bồn, con cái tùy điều kiện hoàn cảnh, bố thí, phóng sinh, cúng dường Tam bảo để hồi hướng công đức cho cha mẹ, cầu siêu cho cha mẹ tổ tiên nhiều đời.
Tóm lại, Vu Lan bồn là ngày lễ báo hiếu vô cùng cao đẹp của Phật giáo nói riêng và là ngày lễ hội báo hiếu nói chung của mọi người con hiếu trên thế gian này. Lễ Vu Lan mang một ý nghĩa thật thiêng liêng cao cả, giúp cho con cái nghĩ nhớ đến công ơn cha mẹ, khơi dậy trong lòng họ một tinh thần báo hiếu đáng quý, đáng trân trọng. Người con Phật nhận thức sâu sắc lời Phật, mùa Vu Lan về càng nỗ lực tinh tấn thực hành hạnh hiếu để báo đáp thâm ân của cha mẹ. Thờ kính cha mẹ đã trở thành một đạo lý sống của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là đạo lý sống của hàng Phật tử khi khẳng định đạo Phật là đạo hiếu.
Signification de Vu Lan – La Piété Filiale
La saison de la piété filiale revient une fois de plus, faisant surgir une vague d’émotions envers nos parents – ceux qui nous ont donné la vie, notre corps et notre avenir. Qui que vous soyez, un simple agriculteur ou une haute personnalité détenant d’importantes responsabilités, notre point de rencontre réside dans cet esprit de piété filiale qui bouillonne au plus profond de nos cœurs.
Dans le registre de la gratitude et du remboursement des bienfaits chers à notre nation, le bouddhisme a depuis longtemps toujours placé la piété filiale au premier rang des vertus. La rencontre de ces deux esprits a donné naissance à des exemples de piété filiale brillants, passés et présents, gravés à jamais dans l’épreuve du temps. Ce n’est nullement un hasard si, le jour de la pleine lune du septième mois lunaire de chaque année, le monde bouddhique célèbre solennellement la grande fête de Vu Lan – Piété Filiale, avec une profonde dignité et une grande majesté, tant par sa forme organisationnelle que par son contenu empreint d’humanisme sur le plan spirituel et culturel. Cette fête tire son origine d’une légende bouddhique consignée dans le Sūtra Ullambana (Kinh Vu Lan Bồn).
– « Vu Lan » est l’abréviation de « Vu Lan Bồn », du sanskrit Ullambana. « Ullam » se traduit par « suspendu à l’envers » (đảo huyền), évoquant la souffrance des défunts comparable à une pendaison par les pieds, une douleur extrême. Le mot « bồn » vient du sanskrit bana, qui signifie « secourir, délivrer ». Ainsi, « Vu Lan Bồn » signifie délivrer du châtiment d’être suspendu à l’envers.
– « Báo hiếu » (la piété filiale pratique) est l’action de témoigner sa gratitude et de rembourser les mérites immenses des parents qui nous ont engendrés et élevés, qu’il s’agisse de nos parents actuels ou de ceux de nos nombreuses vies antérieures.
La fête de Vu Lan du bouddhisme, telle que nous la voyons aujourd’hui, remonte à l’époque du Bouddha. Animé d’une grande compassion, le Bouddha a enseigné la méthode pour s’acquitter de la dette envers ses parents dans cette vie et dans les vies passées. Le tout premier à recevoir cet enseignement n’est autre que le Vénérable Maudgalyāyana (Mục Kiền Liên). Il était l’un des dix grands disciples éminents du Bienheureux. Dès que Maudgalyāyana eut obtenu les six pouvoirs spirituels, il pensa aussitôt à sa mère. Utilisant son œil de sagesse pour la chercher, il découvrit que sa mère s’était réincarnée dans le monde des fantômes affamés (preta), souffrant d’une faim et d’une soif dévorantes. Éprouvant un amour infini pour sa mère, il utilisa ses pouvoirs surnaturels pour descendre dans le monde des preta et lui présenter un bol de riz bien rempli. Cependant, le cœur de sa mère, dame Śrīmatī (Thanh Đề), étant encore pétri d’avarice et son mauvais karma pesant trop lourdement, elle ne fut pas en mesure de manger le riz, car celui-ci se transformait aussitôt en braises ardentes. Pris d’une immense douleur et ne sachant comment sauver sa mère, il retourna consulter le Bienheureux. Le Bouddha lui enseigna alors :
« Les fautes de ta mère sont si lourdes que même en utilisant les powers surnaturels et divins des dévas et des esprits de la terre, tu ne pourrais la sauver. Seule la force spirituelle de la communauté des moines (la Sangha), rassemblée après trois mois de retraite d’été (Vassa), pratiquant avec zèle et pureté, et concentrant leurs prières collectives, pourra transformer sa force karmique et permettre à ta mère d’échapper à la souffrance. »
Entendant cela, le Vénérable Maudgalyāyana implora le Bienheureux :
« Ô Bienheureux, comment puis-je inviter les moines des dix directions à recevoir mes offrandes en même temps ? »
Le Bouddha répondit : « Le jour de Vu Lan est aussi le jour de Pravāraṇā (Tự Tứ) des moines. Tu dois préparer des offrandes pour ce jour de Pravāraṇā. Ce jour-là, que les moines soient en méditation profonde, en marche méditative sous les arbres, ou en train d’enseigner dans le monde, ils se rassembleront tous pour la cérémonie de Pravāraṇā et prieront pour que ta mère soit délivrée de ses souffrances. »
Le Vénérable mit en pratique les enseignements du Bienheureux, et ce jour-même, sa mère fut délivrée des souffrances du monde des fantômes affamés et renaquit dans le monde céleste. Le Vénérable, rempli d’une joie immense, demanda alors : « À l’avenir, si des êtres vivants souhaitent développer un cœur filial pour prier afin que leurs parents échappent à la souffrance et trouvent le bonheur, pourront-ils agir ainsi comme moi ? »
Le Bienheureux répondit : « Cela est possible. On peut agir ainsi lors du jour de Pravāraṇā pour que les parents de cette vie et de nombreuses autres vies soient libérés et accèdent au salut. »
Depuis lors, le bouddhisme a transmis ce rituel de salut permettant aux ancêtres disparus de s’élever vers un monde de paix et de sérénité, accompli lors du jour de Vu Lan – Pravāraṇā. Pendant ces jours, qui que vous soyez et où que vous soyez, chacun formule le vœu de se rendre dans une pagode pour participer à la cérémonie de Vu Lan – Piété Filiale, d’y brûler un bâton d’encens et de prier avec tout son cœur pour que ses parents, de cette vie ou de vies passées, atteignent la libération, et que les parents vivants bénéficient de ces mérites pour jouir de la paix et du bonheur dans la vie humaine.
Depuis que le bouddhisme s’est implanté au Vietnam, la saison de Vu Lan est devenue une tradition de piété filiale. Aujourd’hui, la fête de Vu Lan ne possède plus seulement une signification religieuse sacrée ; elle est devenue une « fête culturelle de l’amour humain » pour quiconque vit sur cette terre. Honorer ses parents, vénérer ses ancêtres, maintenir le lien d’affection et de gratitude entre les vivants et les morts sont autant de nobles traditions inscrites dans le cours de la culture de l’amour humain au sein de la nation.
L’une des plus belles coutumes du jour de Vu Lan est le programme de la rose à la boutonnière (bông hồng cài áo). Au cours de cette cérémonie sacrée, ceux qui ont encore leurs parents ont la joie de porter une rose rouge sur la poitrine ; quant à ceux qui ont perdu leur mère, ils portent avec tristesse une rose blanche endeuillée. Cependant, qu’ils aient encore leurs parents ou qu’ils les aient perdus, chaque enfant offre à cet instant une gratitude profonde envers son père et sa mère, et chacun fait le vœu d’accomplir pleinement son devoir de fils ou de fille accompli.
Pourquoi le devoir d’un enfant implique-t-il de faire preuve de piété filiale ? Tout être humain venant au monde est d’abord porté et enfanté par sa mère : « Neuf mois de grossesse, une lourdeur comparée à porter une montagne ; nuit après nuit comme gravement malade, jour après jour pareil au crépuscule ; lors de l’accouchement, les entrailles semblent se déchirer, dans une douleur atroce et un sang répandu » (Sūtra de la Gratitude envers les Parents). Enfantant avec peine, les parents peinent encore plus à élever l’enfant : la mère dort du côté mouillé pour laisser le côté sec à l’enfant, allant parfois jusqu’à accomplir de mauvaises actions pour son bien. L’enfant est un trésor, la chair et le sang des parents partagés en deux ; ainsi, quel que soit l’enfant, les parents l’aiment inconditionnellement. Cet amour ne prend fin « qu’au tout dernier souffle » (Sūtra de la Gratitude envers les Parents). La dette de naissance envers les parents est immense, haute comme la montagne et vaste comme la mer ; les parents sont deux astres réchauffant et éclairant la vie de l’enfant : « Tant que la mère est vivante, elle est comme le soleil resplendissant de midi ; quand la mère disparaît, elle est comme le soleil couché » (Sūtra Mahāyāna Citta-bhūmi-paśyanā). Dans la vie, il n’y a pas de plus grand bonheur que d’avoir encore ses parents, et il n’y a pas de plus grande détresse que celle d’être orphelin. L’image du père travaillant laborieusement du matin au soir, de la mère douce prenant soin du moindre repas et du sommeil de ses enfants, a été et sera toujours la mélodie apaisante du concert familial. La base de la morale commence également par l’éducation familiale, car les parents sont le modèle de référence de l’enfant dès son plus jeune âge. Plus tard, quel que soit notre âge, nous trouvons toujours en nos parents un soutien spirituel inébranlable. Lorsque nous réussissons dans notre carrière ou que nous sommes heureux en couple, nous ne le ressentons peut-être pas clairement, mais face aux revers de la fortune, lorsque la vie nous maltraite et que nous perdons toute confiance en notre entourage, nous réalisons soudain qu’au bout du monde, nos parents restent ce berceau chaleureux qui veille sur notre sommeil, ces bras doux qui effacent toutes nos peines, nos douleurs et nos amertumes. Cette grâce sacrée, cet amour infini et sans fin, où pourrions-nous les trouver ailleurs qu’auprès de nos propres parents ?
En ce qui concerne la piété filiale, les écritures bouddhiques l’évoquent abondamment. Outre le Sūtra Ullambana, plusieurs autres textes bouddhiques tels que le Sūtra de la Patience, le Mahāsaṃnipāta Sūtra, le Sūtra en 42 chapitres, les Āgama, l’Aṅguttara Nikāya… emploient des mots poignants et vivants, laissant une empreinte spirituelle profonde pour inciter l’être humain à pratiquer cette vertu essentielle. Dans le Sūtra en 42 chapitres, il est clairement affirmé : « Pour un homme, vénérer les démons et les esprits ne vaut pas le fait de vénérer ses parents, car les parents sont la divinité suprême. » Quant au Mahāsaṃnipāta Sūtra, il déclare : « Si le Bouddha n’est pas présent dans ce monde, alors vénérez vos parents de la même manière que vous védéreriez le Bouddha. » Prendre soin de ses parents est une mission sacrée qui dépasse la simple obligation. Prendre soin de ses parents avec piété exige de se conformer avec respect à cinq devoirs : « Subvenir aux besoins de ses parents ; remplir ses devoirs d’enfant envers eux ; préserver le foyer et les traditions familiales ; protéger le patrimoine hérité ; célébrer dignement les funérailles au moment de leur décès » (Sūtra Sigālovāda). Pour honorer ses parents, l’enfant doit accomplir cinq tâches : « Assurer sa subsistance ; se lever tôt pour préparer les repas à temps pour ses parents ; éviter de leur causer des soucis supplémentaires ; se souvenir de leurs bienfaits ; en cas de maladie de ses parents, s’inquiéter et chercher rapidement à les soigner » (Sūtra des Six Directions). Malgré tous les efforts déployés pour accomplir la piété filiale, l’immense bienfait des parents reste extrêmement difficile à rembourser. Dans l’Aṅguttara Nikāya I, le Bouddha enseigne : « Il y a deux personnes, ô moines, dont je dis qu’on ne peut jamais s’acquitter de la dette envers elles. Quelles sont ces deux personnes ? La mère et le père. Même si l’on portait sa mère sur une épaule et son père sur l’autre pendant cent ans, jusqu’à l’âge de cent ans, même si on les massait, les lavait, et même s’ils y faisaient leurs besoins, cela ne suffirait pas encore à rembourser la dette envers son père et sa mère. » Ces formes de piété filiale apparaissent déjà nobles et peu d’enfants savent les accomplir pleinement. Pourtant, selon les enseignements du Bouddha, une telle piété filiale ne suffit pas encore à rembourser l’immense gratitude due aux parents. L’amour et les bienfaits des parents étant si grands, comment les enfants doivent-ils agir pour accomplir pleinement leur devoir de piété filiale ?
Selon le bouddhisme, si la piété filiale consiste uniquement à subvenir aux besoins matériels de ses parents avec tout le respect dû, cela ne suffit pas à rembourser leur bienfait. L’enfant véritablement filial, en plus des soins habituels, doit guider ses parents pour qu’ils trouvent refuge dans le Vrai Dharma (Chánh pháp). Dans l’Aṅguttara Nikāya, le Bouddha enseigne : « Ceux qui remboursent la dette envers leurs parents en les nourrissant et en leur offrant des richesses, de la nourriture et de l’argent ne remboursent jamais suffisamment leur debts. Ô moines, celui qui, face à des parents sans foi, les encourage, les guide et les établit dans la foi pieuse ; face à des parents avares, les encourage, les guide et les établit dans la générosité ; face à des parents manquant de sagesse, les encourage, les guide et les établit dans la sagesse : un tel enfant accomplit pleinement et rembourse véritablement la dette envers son père et sa mère. » Amener ses parents au Vrai Dharma pour leur éviter la déchéance est la forme la plus accomplie de piété filiale, car : « Faire des offrandes à ses parents ne vaut pas le fait d’encourager ses parents à faire le bien et à abandonner le mal. Si l’on ne peut pas convertir ses parents pour qu’ils révèrent les Trois Trésors, même si l’on prend soin d’eux, cela est encore qualifié d’impiété filiale. Si les parents sont violents, débauchés, trompeurs ou déviants…, l’enfant doit faire tout son possible pour les en empêcher, et c’est cela qu’on appelle la vraie piété filiale » (Sūtra de l’Enfant Filial). Lorsque les parents sont décédés, le Bouddha enseigne : « Chaque année, à la pleine lune du septième mois, le jour de Pravāraṇā, préparez des offrandes pour la communauté des moines des dix directions, en priant pour que les parents vivants voient leurs bénédictions et leur longévité s’accroître, et que les parents de sept générations passées soient délivrés de la souffrance des fantômes affamés et renaissent dans les mondes célestes ou humains pour jouir d’un bonheur infini » (Sūtra Ullambana). Ainsi, le devoir des enfants envers leurs parents ne se limite pas à offrir des conditions matérielles bien que cela soit naturel ; cela prend tout son sens si les enfants savent orienter leurs parents vers la prise de refuge dans les Trois Trésors, la pratique de la générosité, le renoncement au mal et l’accomplissement du bien. D’autre part, comme les efforts de naissance et d’éducation déployés par les parents sont immenses comme le ciel et la mer, aucune richesse matérielle ne peut les compenser. De plus, toutes les possessions matérielles de ce monde sont temporaires, impermanentes et périssables, sans valeur éternelle. Par conséquent, encourager ses parents à développer la foi, à accomplir de bonnes actions et à vivre selon la Vue Juste constitue l’acte de piété filiale le plus significatif. En effet, si quelqu’un agit ainsi, ses parents verront leurs mérites et leur longévité s’accroître, vivront paisiblement dans la vie présente et jouiront de belles rétributions dans leurs vies futures.
Prendre soin de ses parents avec piété ne rembourse pas seulement les bienfaits reçus, mais accroît également les mérites de l’enfant lui-même : « Faire une offrande à ses parents, si modeste soit-elle, apporte des mérites incommensurables » (Sūtra Saṃyukta-ratna-piṭaka). La famille où les enfants honorent leurs parents est louée par le Bouddha comme possédant des mérites égaux à ceux de Brahmā, méritant d’être honorée d’offrandes. Dans l’Aṅguttara Nikāya, le Bouddha enseigne : « Les familles où les enfants rendent hommage à leurs parents sont considérées comme l’égal de Brahmā et reconnues comme méritant des offrandes. » Sakka (Indra) lui-même, grâce à sa piété filiale envers ses parents, a obtenu la bénédiction d’être le souverain céleste, roi du ciel des Tāvatiṃsa (les Trente-Trois Dieux). À ce sujet, dans le Saṃyutta Nikāya, le Bouddha dit à Mahāli : « Ô Mahāli, autrefois, lorsque le souverain céleste Sakka était un être humain, il observait et pratiquait sept préceptes : être filial envers ses parents, respecter les aînés de la famille… Grâce à l’observance de ces sept préceptes, Sakka a obtenu le statut de souverain céleste. » Dans le Sūtra du Sage et du Fou, le Bouddha enseigne : « Les mérites de la piété filiale envers les parents sont d’une grandeur inestimable. Grâce à ces mérites, on devient au-dessus empereur céleste, en bas saint roi, jusqu’à atteindre l’état de Bouddha, révéré dans les trois mondes. Tout cela découle de ces mérites. »
Si le fait de vivre dans la piété filiale envers ses parents génère des mérites incommensurables, l’impiété filiale constitue le plus grand des crimes. La plupart des êtres vivants, parce que leur esprit est obscurci par les voiles karmiques, font preuve de plus d’impiété que de piété filiale. Le Bouddha affirme : « Rien n’est plus mauvais que l’impiété filiale » (Sūtra de la Patience). Tuer ses parents est le crime le plus grave, entraînant une chute inévitable et irréparable dans les enfers. Il existe de nombreux enfants riches et aisés dont les parents vivent pourtant dans des chaumières délabrées ; de nombreux enfants disposant de nourriture et de vêtements en abondance alors que leurs parents restent en haillons, luttant au quotidien pour survivre. Il y a même eu des enfants qui ont commis des actes dénués de toute humanité, insultant leurs parents, les frappant, et la presse regorge d’articles signalant des cas d’enfants tuant leurs parents… Quel déchirement ! Les parents ont peiné dur pour élever une nichée d’enfants jusqu’à l’âge adulte, mais la nichée d’enfants ne parvient pas à nourrir ses parents et les maltraite. À toute cause son effet : viendra un moment où ces enfants impies seront à leur tour maltraités par leurs propres enfants. À ce moment-là, même s’ils le regrettent, il sera trop tard, et seule la voie des enfers leur ouvrira ses portes.
Lorsqu’il s’agit d’exemples de piété filiale, nous devons d’abord citer le Bouddha Śākyamuni, qui a incarné à la perfection l’esprit de la piété filiale. Après son Éveil, en souvenir de l’immense bienfait de sa mère comparable au ciel et à la mer, Il est monté à plusieurs reprises au ciel des Tāvatiṃsa pour prêcher le Dharma à sa mère. La reine Māyā, accompagnée de dévas du ciel Yāma, est descendue au ciel des Tāvatiṃsa pour écouter les enseignements du Bouddha et a atteint le premier stade d’éveil (Sotāpanna). Envers le roi Śuddhodana, Il a également fait preuve d’une piété filiale extrême lorsqu’Il résidait encore au palais royal. Et après son Éveil, Il est revenu à plusieurs reprises dans sa patrie pour rendre visite à son père et prêcher le Dharma, l’encourageant à prendre refuge dans les Trois Trésors. Grâce aux enseignements du Bouddha, le roi Śuddhodana est devenu un bouddhiste fervent. Le moment le plus émouvant fut la dernière nuit avant le décès du roi : le Bouddha resta au palais toute la nuit pour prêcher le Dharma à son père, permettant au roi d’atteindre le stade d’Anāgāmi (Non-retournant). Et c’est le Bouddha Lui-même qui a porté le cercueil de son père jusqu’au lieu de crémation.
Dans l’histoire du Vietnam, de nombreux exemples remarquables ont été consignés, comme celui du roi Lý Nhân Tông (1072-1127), qui annula les banquets du milieu de l’année au cours desquels les cent officiers lui présentaient leurs vœux, afin d’organiser la cérémonie d’Ullambana pour prier pour le salut de sa mère, conformément au sens bouddhique. L’histoire rapporte également le cas du roi Tự Đức (1829-1882) : un jour qu’il chassait les oiseaux dans la région de Thuận Trực, An Nong, survint une crue. La barque royale tardant à revenir, la reine mère dépêcha des soldats avec des embarcations pour l’accueillir. De retour à Thương Bạc, le roi se hâta de rentrer au palais, ajusta sa tenue et se rendit auprès de la reine mère pour lui présenter ses devoirs. La reine mère, irritée, s’assit le visage tourné vers le mur. Le roi Tự Đức s’allongea de lui-même sur le sol, posant un rotin sur son dos pour subir son châtiment. La reine mère se retourna, rabaissa le rotin de la main et lui adressa de sévères réprimandes. Cette nuit-là, obéissant à sa mère, le roi resta éveillé toute la nuit pour examiner et approuver les mémoires d’État. Dès lors, il n’abandonna plus jamais les affaires du royaume.
Lorsque l’on aborde la question de la piété filiale dans la vie moderne, beaucoup de gens ouvrent de grands yeux d’étonnement, se demandant si cela reste encore sincère ou s’il n’est pas trop difficile de poursuivre une telle forme de famille traditionnelle ancienne… Mais fort heureusement, çà et là brillent encore des exemples de piété filiale qui émergent au cœur de la vie moderne. M. Nguyễn Thanh, après une longue période d’études à l’étranger, a trouvé un emploi stable dans une multinationale. Bien qu’ayant étudié à l’occidentale et travaillant pour une entreprise occidentale, Nguyễn Thanh voue à sa mère un amour qui est presque devenu une sorte de « religion ». Il travaille chaque soir jusqu’à 21 heures, mais il prend le temps chaque jour de passer chercher sa mère à la sortie du travail. Cela dure depuis des années avec une régularité parfaite. Et lorsqu’il sait qu’un théâtre joue une nouvelle pièce ou qu’un cinéma projette un bon film, Thanh achète des billets pour y emmener sa mère. Parfois, alors qu’il vient de dîner avec des amis, sa mère l’appelle pour lui dire de rentrer manger : il répond aussitôt « Oui, j’ai faim, je rentre manger avec toi tout de suite ». Thanh confie : « Si j’ai pris cette habitude quasi rituelle, c’est parce que dans mon cœur, j’ai toujours voulu compenser un peu ce que ma mère a manqué, car elle a souffert de beaucoup de solitude en raison du travail de mon père qui l’obligeait à être souvent loin de la famille. »
Un autre cas exemplaire est celui de M. H. Long, âgé de 35 ans, marié, père de famille et ingénieur en bâtiment aux journées bien remplies. Il n’avait à priori que peu de temps pour s’occuper de son père. Sa mère étant décédée depuis longtemps, il concentre tout son amour sur son vieux père affaibli en aménageant son emploi du temps très serré pour être à ses côtés. Son père est très âgé et doit utiliser un fauteuil roulant car il ne peut plus marcher. Les habitants de Gò Vấp sont désormais habitués à la vision de cet ingénieur poussant le fauteuil roulant de son père pour une promenade. Il raconte : « C’est pour que mon père puisse voir la vie, respirer l’air frais, sortir du cadre étroit de la maison et surtout pour qu’il ne se sente pas triste. » Sa conception de la piété filiale est une pensée simple, rien de grandiose à ses yeux. La piété filiale consiste simplement à savoir prendre soin de ses parents, à les aimer comme ils nous ont aimés et à ne pas leur causer de chagrin.
Les coutumes vietnamiennes conservent encore la beauté des traditions orientales, où les parents vivent entourés de leurs enfants et petits-enfants, certaines familles réunissant parfois quatre générations sous le même toit (trois ou quatre générations vivant ensemble). Dans les pays occidentaux, c’est différent : les gens préfèrent souvent vivre de manière indépendante, et dès l’âge adulte, les enfants quittent le domicile familial. Les parents âgés sont placés dans des maisons de retraite où, bien que le confort matériel soit assuré, les liens affectifs manquent de chaleur. De nombreuses personnes âgées parrainées au titre du regroupement familial ressentent rapidement après leur arrivée une nostalgie profonde pour leur pays natal, peinant à s’intégrer à la vie à l’étranger. Surtout dans les familles ancrées dans la vie moderne où chaque membre devient une île isolée, les liens entre les membres de la famille s’effilochent, et l’affection envers les aînés perd de son caractère sacré ; les personnes âgées portent alors d’autant plus le sentiment douloureux d’être devenues inutiles et d’être une charge. En réalité, les personnes âgées ont très peu de besoins matériels, mais éprouvent d’immenses besoins affectifs. Si nous ne comprenons pas cela pour agir avec tact, nous risquons involontairement de susciter leur tristesse et leur ressentiment, rendant le soir de leur vie encore plus sombre.
Pour le fidèle laïque, avoir encore ses parents de leur vivant est une immense bénédiction, car les parents sont le champ de mérites du monde. Nous devons nous efforcer de satisfaire nos parents, afin qu’ils vivent heureux les jours qui leur restent sur les plans matériel, spirituel et moral. Sur le plan matériel, nous prenons soin d’eux selon nos moyens, en leur fournissant les traitements médicaux nécessaires lorsqu’ils sont malades. Sur le plan moral et affectif, nous veillons à l’harmonie familiale et nous enseignons à nos enfants le respect et l’amour envers leurs grands-parents. Comme les personnes âgées se sentent souvent solitaires ou vulnérables, et ont parfois des idées conservatrices ou dépassées, nous devons faire preuve d’empathie, de respect et leur accorder une présence et une attention constantes. Sur le plan spirituel, nous guidons nos parents sur la voie du bien, en les encourageant à prendre refuge dans les Trois Trésors et à observer les préceptes. Si nos parents sont déjà bouddhistes, nous leur facilitons les visites à la pagode pour écouter les enseignements du Dharma, côtoyer les vénérables moines et les encourager dans leur pratique spirituelle. Si nos parents ne connaissent rien au Dharma et commettent souvent de mauvais actes, nous devons faire preuve d’une grande patience et de tact pour les exhorter à revenir vers la Vue Juste. Parallèlement, les enfants doivent eux-mêmes accomplir de nombreuses bonnes actions et s’efforcer de pratiquer la voie spirituelle afin de dédier leurs mérites à la transformation du cœur de leurs parents. Lorsque les parents sont malades, le Bouddha enseigne aux enfants d’observer le jeûne, de pratiquer la générosité, la libération d’animaux (phóng sinh) et de réciter les sūtras de prière pour la paix. Lorsque les parents décèdent, le Bouddha enseigne que pour leur exprimer leur gratitude, les enfants doivent, durant la période des sept semaines de deuil (49 jours), pratiquer la générosité, effectuer des libérations d’animaux et réciter des sūtras pour prier pour le salut de l’âme des parents (Sūtra d’Amitābha, Sūtra de Kṣitigarbha). Après ces 49 jours, les enfants continuent d’accomplir leur devoir de piété filiale. Chaque année, lors de la pleine lune du septième mois, à l’occasion de la fête d’Ullambana, les enfants, selon leurs moyens, pratiquent la générosité, la libération d’animaux et font des offrandes aux Trois Trésors afin de dédier leurs mérites à leurs parents et de prier pour le salut de leurs parents et ancêtres de nombreuses générations passées.
En résumé, Vu Lan Bồn est une fête de la piété filiale d’une beauté exceptionnelle, propre au bouddhisme en particulier et célébrée par tous les enfants filiaux du monde en général. La fête de Vu Lan revêt une signification véritablement sacrée et élevée, incitant les enfants à se remémorer les bienfaits de leurs parents et éveillant dans leur cœur un esprit de piété filiale précieux et vénérable. L’enfant du Bouddha, comprenant profondément les enseignements du Bouddha, redouble d’efforts lors de la saison de Vu Lan pour pratiquer la vertu de piété filiale afin de répondre à l’immense bienfait de ses parents. Vénérer et honorer ses parents est devenu un principe de vie essentiel pour le peuple vietnamien, tout comme il constitue une éthique fondamentale pour tous les bouddhistes, affirmant ainsi que le bouddhisme est, par essence, la religion de la piété filiale.