Tội và phước – Fautes et Mérites

I.- MỞ ĐỀ

Nói đến tu hành là nói đến tội phước, nếu không rõ tội phước tức là không rõ sự tu hành. Nếu người tu mà cứ lao mình trong tội lỗi, ấy là người tạo tội chớ không phải là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từ tội phước mà sanh ra. Vì thế muốn thấu hiểu sự tu hành chúng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là những hành động thiết thực trong cuộc sống này, không phải là chuyện siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hành phải thấu đáo phải phân rành vấn đề tội phước.

II.- THẾ NÀO LÀ TỘI?

Tội là hành động làm cho mình và người đau khổ trong hiện tại và vị lai. Người làm tội cũng gọi là người dữ, người xấu. Tội, có tội ngoài đời và tội trong đạo. Tội ngoài đời là những kẻ phạm luật pháp nhà nước, bị tù đày đau khổ. Tội trong đạo có hai loại: tội do hứa nguyện gìn giữ mà không giữ, tội làm đau khổ chúng sanh. Tội do hứa nguyện gìn giữ mà không giữ, như trước nhận giữ năm giới hoặc mười giới là điều cao cả quí báu, ở trước Tam Bảo nguyện trọn đời gìn giữ, mà sau này không giữ được một hoặc nhiều điều, gọi là tội phạm giới. Tại sao phạm giới gọi là tội? Bởi vì trước mình đã nhận định những giới luật đó là hay là đúng, nếu giữ được sẽ lợi ích cho mình và chúng sanh, nên nguyện gìn giữ. Sau này mình không gìn giữ, thế là đã phá hoại sự lợi ích của mình và của chúng sanh nên phạm tội. Thí dụ như giới ăn trộm chẳng hạn. Bất cứ một hành động nào làm khổ cho người hiện tại hoặc mai kia đều là tội. Bởi vì mình đã gây ra nhân đau khổ thì quả đau khổ mình phải lãnh lấy. Do làm khổ mình khổ người nên gọi là tội. Tội có tội nhẹ và tội nặng.

a) Tội nhẹ

Những điều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng chúng ta gây ra mà không cộng tác với ý là tội nhẹ. Bởi vì việc làm ấy là vô tâm, hoặc không có ý thức. Việc làm vô tâm, khi nạn nhân cảm thông được, họ sẽ bớt thù hận, nếu họ đại lượng có thể tha thứ luôn. Thí dụ chúng ta đi đường, có đứa bé cầm hòn đất ném chơi, lại trúng vào chúng ta. Nếu chúng ta biết nó không có ý ném mình, tuy đau điếng mà chúng ta không giận nó. Thế nên mọi hành động bằng thân bằng miệng làm đau khổ cho người mà không có ý thức là tội nhẹ, xin lỗi hoặc sám hối sẽ hết. Việc làm đau khổ chúng sanh chút ít cũng là tội nhẹ.

b) Tội nặng

Những điều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng cộng tác với ý chúng ta gây ra là tội nặng.

Bởi vì việc làm ấy là có cố tâm, có hữu ý, khiến người oán giận không thể tha thứ. Thí dụ như có người cố tình đánh chúng ta, dù cái đánh ấy bị cản trở không chạm đến thân chúng ta song biết kẻ ấy cố tình đánh mình, chúng ta cũng giận họ đời đời. Vì thế hành động cố tâm, hữu ý là hành động quan trọng nên tạo thành tội nặng.

Thế nên tội phát xuất từ ba nghiệp chúng ta.

Nơi thân: giết người, trộm cướp, tà dâm.

Nơi miệng: nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói hung ác.

Nơi ý: tham, sân và tà kiến. Sự hợp tác chặt chẽ của ba nghiệp này là tội nặng. 

 

III.- THẾ NÀO LÀ PHƯỚC? 

Phước là những hành động đem lại sự an vui cho mình, cho người ở hiện tại và mai kia. Người làm phước cũng gọi là người lành, người tốt. Bởi vì những hành động đem lại sự an vui cho người, người sẽ quí mến. Chính sự quí mến ấy nên gặp nhau vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ nhau. Chúng ta giúp đỡ hoặc an ủi khiến người được an vui, người thù đáp lại chúng ta bằng cử chỉ biết ơn vui vẻ quí mến, đó là làm phước gặp phước. Vì thế người biết làm phước hiện tại được an vui, mai sau vẫn an vui. Làm phước có hai thứ: phước hữu lậu và phước vô lậu.

A) Phước hữu lậu

Làm cho mình cho người an vui tương đối trong vòng sanh tử là phước hữu lậu. Do ba nghiệp chúng ta hoạt động đem lại sự an vui cho người, chính hành vi ấy là sanh diệt giới hạn, còn trong vòng sanh tử hiện tại cũng như mai sau. Chúng ta phải nỗ lực tạo điều kiện cho mình và mọi người thường được an vui. Muốn thực hiện được việc đó, ngay nơi ba nghiệp chúng ta phải ứng dụng các điều này:

1. Về thân

a) Cứu mạng: Chúng ta phải sẵn sàng cứu giúp bảo vệ sanh mạng người. Nếu người gặp tai nạn sắp mất mạng, theo khả năng mình, chúng ta tận tâm cứu giúp. Giải cứu cho người thoát chết, hoặc ngừa đón những sự việc có thể làm nguy hiểm đến sanh mạng người, đó là việc làm phước của thân. Bởi vì sanh mạng đối với con người là tối thượng, cho nên ai giải cứu khỏi chết, là an vui và biết ơn vô kể. 

b) Bố thí: Kế đến, sẵn sàng cứu giúp người khi gặp cảnh cơ hàn nguy khốn. Nỗi khổ đói rét cũng đe dọa đến sanh mạng, người đang lâm vào cảnh khổ này, nếu được cứu giúp, họ cũng vui mừng vô hạn. Chúng ta muốn được an vui thì phải sẵn sàng mang sự an vui bủa khắp mọi người, đó là nền tảng phước đức. Hạnh phúc không phải đến riêng với chúng ta, mà do sự thù đáp từ hạnh phúc của mọi người mang lại. Chúng ta đừng dại khờ cứ bo bo giữ lấy tài sản vô thường làm của riêng mình, cần phải ban bố cho những người đang thiết tha cần nó. Những cái vô thường mà cứ giữ, có ngày sẽ khổ đau khi nó không còn ở trong tầm tay mình nữa. Mượn của cải vô thường làm phương tiện an vui cho người, nguồn an vui ấy sẽ trở về với chúng ta một cách bền vững lâu dài.

c) Trinh bạch: Cần phải giữ hạnh trung thành trinh bạch. Người biết đạo lý đã không dám xâm phạm đến danh giá và hạnh phúc của gia đình người, còn phải trung thành trinh bạch với gia đình mình. Tinh thần trung trinh ấy giúp cho người trong gia đình tín cẩn lẫn nhau. Do sự tín cẩn nhau nên trong gia đình được sự an ổn vui tươi. Trong gia đình đã thế, chúng ta cần nhắc nhở chỉ dạy cho mọi người chung quanh đều tập hạnh trung trinh này. Được thế, sự an vui không những chỉ ở trong phạm vi gia đình, mà tràn lẫn đến xã hội.

2. Về miệng

Tu phước ở miệng phải tập bốn điều này:

a) Nói chân thật: Nói chân thật để đem lại niềm tin tưởng an ổn cho người. Bất cứ ở trường hợp nào, chúng ta cũng cố gắng nói lên những lẽ thật. Luôn luôn tôn trọng và yêu chuộng lẽ thật, cho nên phát ngôn lúc nào cũng hợp với sự thật. Chân thật là nguồn gốc tin yêu nhau, do đó mọi sự mến thương được bền bỉ.c) Nói đúng lý: Nói đúng lý để giúp mọi người nhận được lẽ chánh. Trong cuộc sống phức tạp này khiến mọi người khó tìm được con đường chánh. Cho nên chúng ta cố gắng nói ra lời đúng lý, hầu làm sáng tỏ mọi chỗ ngờ vực của người. Sống đúng, nói đúng, thật là sự hi hữu trong cuộc đời hỗn độn hiện nay. Chúng ta mãi tôn trọng câu “mặc người phi pháp, chúng ta vẫn giữ đúng pháp”.

c) Nói hòa thuận: Nói hòa thuận để đem lại tình đoàn kết cho mọi người. Tất cả việc làm phân ly chia rẽ đều là tạo nên thống khổ cho con người. Chúng ta đã không làm thế, mà luôn luôn dùng lời hòa thuận để hàn gắn lại những mối tình đã rạn nứt. Ngôn ngữ chúng ta phát ra đều đem lại tình thương gắn bó cho mọi người. Thấy đâu có sự rạn nứt, có mầm tan rã, chúng ta đều nỗ lực dùng lời hòa thuận là chất keo hàn gắn lại. Tận dụng ngôn ngữ mình để đem lại tình đoàn kết an vui cho nhân loại.

d) Nói nhã nhặn: Nói nhã nhặn để đem lại sự ôn hòa vui vẻ cho người. Mọi sự căm phẫn, bực tức đều làm cho người đau khổ. Chúng ta tập nói nhã nhặn là làm dịu mọi sự bực dọc của người. Lời nói nhã nhặn khiến người dễ mến và vui vẻ. Trọn đời chúng ta đem lại sự an vui cho chúng sanh, không có lý do nào lại dùng lời thô ác. Chúng ta phải thực hiện lời nhã nhặn mãi mãi với mọi người.

3. Về ý

Chúng ta phải tập từ bi, nhẫn nhục và chánh kiến. Mang lại tình thương cho chúng sanh là tiêu diệt mầm tham lam độc ác. Nỗi khổ của chúng sanh ngập trời đều do lòng tham ác của con người tạo nên. Chúng ta tận lực gây dựng tình thương để giảm thiểu đau khổ cho chúng sanh. Tập lòng nhẫn nhục để chịu đựng mọi cảnh ngang trái mà không sanh sân hận. Có nhẫn nhục được, chúng ta mới giữ được tình thương lâu dài với chúng sanh. Chánh kiến là nhận định đúng đắn, đưa chúng ta đi đúng hướng, sáng suốt vui tươi. Do chánh kiến mới có nói đúng, làm đúng. Ba nghiệp tạo phước, chánh kiến là đội binh tiên phong. Tóm lại, ba nghiệp làm mười điều trên là tu phước hữu lậu. Phước này khiến chúng ta qua lại trên con đường an vui tươi đẹp. Mặc dù còn tương đối sanh tử, song đến đâu cũng là hài lòng mãn ý.

B) Phước vô lậu

Phước vô lậu là sự an vui tuyệt đối không giới hạn. Do thoát ly sanh tử nên an vui miên viễn. Bởi sự an vui nào mà còn sanh tử đều tạm bợ đối đãi. Chỉ có tiêu diệt hết mầm sanh tử, an trụ vô sanh, mới là an vui viên mãn. Tu phước vô lậu là chúng ta nhắm hướng vô sanh làm mục đích, hàng ngày buông xả cái chủ động sanh diệt và dùng trí thấy rõ các tướng giả dối sanh diệt, không lầm, không kẹt nó. Cứ thế tiến mãi, cho đến bao giờ viên mãn mới thôi. Mình làm như vậy, chỉ dạy người làm như vậy là tu phước vô lậu.

IV.- CẦN TRÁNH TỘI LÀM PHƯỚC

a) Tránh tội

Đã biết tội là nhân khổ đau bất như ý, chúng ta cố gắng tránh đừng gây nên tội. Cuộc đời đã khổ đau lắm rồi, chúng ta không thể làm cho nó tươi đẹp, ít ra cũng đừng tô thêm cho đậm nét khổ đau. Tránh gây khổ đau cho người tức là tránh tạo khổ cho mình. Có ai ngu dại đến nỗi lấy dây tự trói, lấy roi tự đánh, để rồi kêu khóc thở than. Mầm khổ đau không gieo thì cây khổ đau làm sao đâm chồi nảy lộc. Biết thế, chúng ta dè dặt tối đa trong việc gieo nhân đau khổ. Dù một tội nhỏ, tránh được, chúng ta cũng cố gắng tránh. Như trong Luật nói: “Giọt nước tuy nhỏ, rơi mãi cũng đầy chậu lớn.” Người biết sợ tội là người sẽ khỏi tội. Chỉ có kẻ liều mạng xem thường tội lỗi, càng lún sâu trong tội lỗi. Đã có tội lỗi là có khổ đau, như có hình thì có bóng, có tiếng thì có vang. Người học đạo phải sáng suốt thấy rõ lý lẽ ấy, để không lầm, làm khổ mình khổ người.

b) Làm phước

Hạnh phúc an vui là điều ai cũng ước mơ, mong mỏi. Người học đạo không ư?c mơ mong mỏi suông, phải thực tế gầy dựng hạnh phúc cho người tức là gầy dựng hạnh phúc cho mình. Hạnh phúc không thể ngẫu nhiên đến với chúng ta, mà do công phu bồi đắp. Một hành động, một lời nói, một ý nhiệm mầu đem an vui lại cho người, chính là gây dựng hạnh phúc cho ta. Trong cuộc đời tương phản, kẻ buông xả hết lại là người được nhiều nhất. Ngược lại, người cố giữ gìn lại là người mất mát nhất. Tạo hạnh phúc cho mình, không phải bo bo gìn giữ những cái gì của mình mà phải xả bỏ cái của mình, tạo cho người an vui. Chúng ta làm cho trăm ngàn người an vui, quả thực đã tạo trăm ngàn điều an vui cho chúng ta.

Vì thế làm phước không bao giờ thấy đủ, chúng ta làm mãi đến suốt đời, mà vẫn thấy chưa xong. Có một lần đức Phật đang ngồi trong một tịnh xá, ở phòng khác ngài A-na-luật đang xỏ kim vá y, vì mắt không tỏ, Ngài xỏ hoài mà chẳng được. Ngài buột miệng than: “Có ai mắt sáng làm phước xỏ kim hộ tôi.” Đức Phật nghe, Ngài đi đến chỗ A-na-luật bảo: “A-na-luật! Đưa kim ta xỏ hộ”. Thế Tôn đầy đủ vô lượng phước đức, mà còn mót từ cái phước xỏ kim. Thử hỏi chúng ta là người gì mà không cố gắng làm phước? Phước càng to thì an vui càng lắm, có thiệt thòi gì đâu mà không chịu làm!

V.- KẾT LUẬN

Tội phước là điều thực tế trên cõi nhân gian. Cổ động khuyến khích người tránh tội là hành động giảm thiểu khổ đau cho nhân loại. Tán thán ca ngợi làm phước là mang lại hạnh phúc an vui cho chúng sanh. Lý đáng mọi người chúng ta đều tận lực làm điều này. Vô lý những kẻ đã không làm, lại công kích người khác làm. Còn ai không xót xa khi thấy con người sát phạt con người. Người có lương tâm, đầy lòng trắc ẩn không thể ngó lơ trước huynh đệ tương tàn. Cho nên tránh tội làm phước là điều mỗi con người chúng ta phải ứng dụng. Biết tội phước là cội nguồn của đạo đức. Song chúng ta đừng bị phỉnh gạt bằng những tội phước rỗng. Tội là cấy mầm đau khổ nơi con người, Phước là gieo hạt hạnh phúc cho chúng sanh. Thực tế như vậy, không phải việc huyễn hoặc viễn vông.

Fautes et Mérites

I. INTRODUCTION

Parler de la pratique spirituelle, c’est parler des fautes (tội) et des mérites (phước). Si l’on ne comprend pas clairement ce que sont les fautes et les mérites, on ne comprend pas la pratique spirituelle. Si un pratiquant s’enfonce continuellement dans les fautes, il crée du mauvais karma et n’est pas un véritable pratiquant. Toute joie et toute souffrance trouvent leur origine dans les fautes et les mérites. C’est pourquoi, pour bien comprendre la pratique, nous devons pleinement comprendre la notion de fautes et de mérites. Les fautes et les mérites sont des actions concrètes de la vie quotidienne ; ce ne sont pas des concepts mystérieux, flous ou irréels. Ainsi, le pratiquant doit saisir et distinguer clairement cette question.

II. QU’EST-CE QU’UNE FAUTE ?

Une faute est une action qui cause de la souffrance à soi-même et aux autres, dans le présent comme dans le futur. Celui qui commet des fautes est aussi appelé une personne mauvaise ou méchante.

Il existe deux types de fautes : les fautes dans le monde laïque et les fautes dans la Voie spirituelle (Đạo).
  • Les fautes dans le monde laïque sont le fait de transgresser les lois de l’État, entraînant l’emprisonnement et la souffrance.
  • Les fautes dans la Voie spirituelle sont de deux sortes :

    1. La faute d’avoir fait le vœu d’observer un engagement et de ne pas le tenir.
    2. La faute de faire souffrir les êtres vivants.
La faute liée à un vœu non tenu survient, par exemple, lorsqu’on s’est engagé auparavant devant les Trois Joyaux à observer noblement et précieusement tout au long de sa vie les cinq préceptes ou les dix préceptes, mais que l’on manque ensuite à l’un ou plusieurs d’entre eux. On parle alors de « faute de transgression des préceptes » (tội phạm giới). Pourquoi la transgression d’un précepte est-elle une faute ? Parce qu’on avait reconnu au préalable que ces préceptes étaient bons et justes, et que leur observation serait profitable à soi-même et aux êtres. Ne pas les observer par la suite revient à détruire ce bienfait pour soi et pour autrui : c’est donc commettre une faute. Prenons l’exemple du précepte de ne pas voler.

Toute action qui fait souffrir autrui, dans le présent ou dans le futur, constitue une faute. Comme nous avons semé une cause de souffrance, nous devons en récolter le fruit douloureux. C’est le fait de faire souffrir soi-même et les autres qui constitue la faute. Les fautes se divisent en fautes légères et fautes graves.

a) La faute légère

Les actes accomplis par le corps ou la parole qui causent de la souffrance aux autres ou aux êtres vivants, sans la participation de l’intention (l’esprit), constituent des fautes légères. En effet, ce sont des actes faits sans préméditation ou sans conscience. Lorsqu’un acte est accompli sans intention, si la victime le comprend, sa rancœur diminue, et si elle est magnanime, elle peut pardonner immédiatement. Par exemple, si nous marchons dans la rue et qu’un enfant lance de la terre par jeu et nous touche, nous ne lui en voulons pas, bien que cela fasse mal, car nous savons qu’il n’avait pas l’intention de nous viser. Ainsi, tout acte du corps ou de la parole causant de la souffrance sans intention consciente est une faute légère : s’excuser ou se repentir suffit à la dissiper. De même, causer une faible souffrance aux êtres vivants constitue une faute légère.

b) La faute grave

Les actes accomplis par le corps ou la parole avec la coopération de l’intention (l’esprit) et qui causent de la souffrance aux êtres vivants sont des fautes graves. Comme l’acte est délibéré et intentionnel, il suscite une rancœur que l’autre ne peut pardonner. Par exemple, si quelqu’un cherche intentionnellement à nous frapper, même si le coup est arrêté et ne touche pas notre corps, le seul fait de savoir qu’il avait l’intention de nous frapper nous fait ressentir du ressentiment. C’est pourquoi l’action délibérée et intentionnelle est déterminante et constitue une faute grave.

Les fautes proviennent donc de nos trois karmas :
  • Au niveau du corps : tuer, voler, l’inconduite sexuelle.
  • Au niveau de la parole : le mensonge, le langage duplice, les paroles futiles/enjolivées, les paroles cruelles.
  • Au niveau de l’esprit : la cupidité, la colère et les vues fausses.
La coopération étroite de ces trois karmas constitue une faute grave.

III. QU’EST-CE QU’UN MÉRITE ?

Le mérite réside dans les actions qui apportent la paix et la joie à soi-même et aux autres, dans le présent et le futur. Celui qui accomplit des mérites est aussi appelé une personne vertueuse ou bonne. Lorsque nous accomplissons des actions qui apportent de la joie aux autres, ceux-ci nous chérissent. C’est grâce à cette affection que les rencontres sont joyeuses et que les êtres sont prêts à s’entraider. Lorsque nous aidons ou réconfortons quelqu’un pour lui apporter de la joie, il nous répond par des gestes de gratitude et d’affection : c’est cela « faire le bien et récolter le bien ». Ainsi, celui qui sait accomplir des mérites trouve la paix aujourd’hui et demeurera dans la paix demain.

Il existe deux types de mérites : les mérites mondains / sujets à la contamination (phước hữu lậu) et les mérites supramondains / non contaminés (phước vô lậu).

A) Les mérites mondains (Phước hữu lậu)

Apporter une paix et une joie relatives à soi-même et aux autres dans le cycle des renaissances (saṃsāra) constitue les mérites mondains. Les actions de nos trois karmas visant le bien d’autrui sont sujettes à l’apparition et à la disparition ; elles restent limitées et ancrées dans le cycle des renaissances présentes et futures. Nous devons nous efforcer de créer les conditions pour que nous-mêmes et autrui soyons constamment dans la joie. Pour ce faire, nous devons appliquer ces principes au niveau de nos trois karmas :

1. Au niveau du corps

  • a) Sauver la vie (Cứu mạng) : Nous devons être prêts à protéger la vie d’autrui. Si quelqu’un est en danger de mort, nous devons l’aider de toutes nos forces selon nos capacités. Sauver une personne de la mort ou prévenir ce qui pourrait mettre sa vie en danger est un acte de mérite du corps. La vie étant ce qu’il y a de plus précieux pour l’être humain, celui qu’on sauve de la mort éprouve une joie et une gratitude infinies.
  • b) La générosité (Bố thí) : Il faut être prêt à venir en aide à ceux qui sont dans la misère ou le dénuement. La souffrance du froid et de la faim menace également la vie ; porter secours à une personne dans cette détresse lui apporte une immense joie. Si nous voulons la paix et la joie, nous devons répandre le bonheur autour de nous : c’est le fondement de la vertu et des mérites. Le bonheur ne vient pas à nous de façon isolée, il naît du bonheur que nous offrons aux autres. Ne soyons pas stricts au point de thésauriser des biens impermanents pour nous seuls ; donnons à ceux qui en ont urgemment besoin. À s’accrocher aux choses impermanentes, on finit par souffrir le jour où elles nous échappent. Utiliser les richesses impermanentes comme moyen pour offrir de la joie aux autres permet à cette source de joie de revenir à nous de façon durable.
  • c) La pureté et la fidélité (Trinh bạch) : Il convient de préserver la fidélité et la pureté de conduite. Une personne consciente de la vérité spirituelle ne s’attaque pas à l’honneur et au bonheur de la famille d’autrui, et reste fidèle et pure au sein de sa propre famille. Cet esprit de fidélité permet aux membres du foyer de se faire mutuellement confiance, apportant ainsi sécurité et joie dans le foyer. Au-delà de la famille, nous devons encourager notre entourage à pratiquer cette même fidélité. Ainsi, la paix ne se limitera pas au cadre familial, mais s’étendra à toute la société.

2. Au niveau de la parole

Cultiver les mérites par la parole nécessite d’appliquer ces quatre règles :
  • a) Dire la vérité : Dire la vérité pour apporter confiance et sérénité aux autres. En toute circonstance, efforçons-nous d’exprimer la vérité. En respectant et en aimant constamment la vérité, nos paroles restent en accord avec elle. La vérité est la source de la confiance et de l’affection durables.
  • b) Parler de manière juste et conforme à la raison (Nói đúng lý) : Exprimer la raison juste pour aider chacun à discerner le droit chemin. Dans cette vie complexe, il est difficile pour les gens de trouver la voie juste. C’est pourquoi nous devons nous efforcer de prononcer des paroles conformes à la raison afin de dissiper leurs doutes. Vivre avec justesse et parler avec juste raison est une chose rare dans le désordre du monde actuel. Souvenons-nous de cet enseignement : « Peu importe que les autres agissent de façon illégitime, gardons toujours une conduite juste. »
  • c) Parler avec concorde et harmonie (Nói hòa thuận) : Prononcer des paroles d’harmonie pour unir les êtres. Tout ce qui divise ou sépare engendre une profonde souffrance chez l’être humain. Refusant de diviser, nous devons toujours employer des mots conciliants pour panser les relations brisées. Nos paroles doivent susciter un amour fraternel. Dès que nous voyons une fissure ou un germe de désunion, efforçons-nous d’utiliser la concorde comme un ciment rassembleur, mettant notre langage au service de l’unité et de la joie de l’humanité.
  • d) Parler avec courtoisie et douceur (Nói nhã nhặn) : Parler gentiment pour apporter apaisement et gaieté. La colère et l’irritation font souffrir. S’entraîner à parler gentiment permet d’adoucir les tensions chez autrui. Une parole aimable suscite l’affection et la joie. Voulant apporter le bonheur aux êtres tout au long de notre vie, nous n’avons aucune raison d’employer des mots rudement agressifs. Nous devons pratiquer la douceur verbale en tout temps et avec tous.

3. Au niveau de l’esprit

Nous devons cultiver la compassion (từ bi), la patience (nhẫn nhục) et la vue juste (chánh kiến).

  • Apporter de l’amour aux êtres vivants détruit les germes de la cupidité et de la cruauté. Les souffrances immenses qui submergent le monde naissent toutes de la cupidité et de la méchanceté humaines. Développons l’amour de toutes nos forces pour réduire la souffrance.
  • Pratiquer la patience permet de supporter les injustices sans laisser naître la colère. Ce n’est qu’en étant patient que l’on peut maintenir un amour durable envers les êtres.
  • La vue juste est une compréhension exacte qui nous guide dans la bonne direction, avec clarté et sérénité. C’est elle qui permet de parler juste et d’agir juste : elle est l’avant-garde des trois karmas générateurs de mérites.
En résumé, faire accomplir à ses trois karmas les dix actions ci-dessus constitue la pratique des mérites mondains. Ces mérites nous font cheminer sur une voie belle et paisible. Même si nous sommes encore dans le cycle relatif des renaissances, partout où nous allons, nous trouvons satisfaction et sérénité.

B) Les mérites supramondains (Phước vô lậu)

Les mérites supramondains représentent la joie absolue et illimitée. Libérés du cycle des renaissances, nous bénéficions d’une paix éternelle. Toute joie qui demeure ancrée dans le cycle des renaissances reste temporaire et relative. Seule l’extinction complète des germes de la relecture, permettant de demeurer dans le Non-Né (vô sanh), constitue la joie accomplie.

Cultiver le mérite supramondain consiste à prendre le Non-Né comme objectif, à lâcher prise au quotidien sur l’agent créateur du cycle d’apparition et de disparition, et à utiliser la sagesse pour voir clairement la nature illusoire et impermanente de toutes choses, sans s’y tromper ni s’y attacher. On avance ainsi jusqu’à la réalisation parfaite. Agir de la sorte et enseigner aux autres à faire de même, c’est pratiquer le mérite supramondain.

IV. ÉVITER LES FAUTES ET ACCOMPLIR LES MÉRITES

a) Éviter les fautes

Sachant que la faute est la cause des souffrances et des désagréments, efforçons-nous d’éviter de la commettre. La vie comporte déjà bien assez de souffrances ; si nous ne pouvons la rendre plus belle, évitons au moins d’en alourdir les peines. Éviter de faire souffrir autrui, c’est éviter de se faire souffrir soi-même. Qui serait assez insensé pour s’attacher lui-même avec des cordes, se frapper avec un fouet, puis fondre en larmes ? Si la graine de souffrance n’est pas semée, comment l’arbre de la souffrance pourrait-il bourgeonner ? Conscient de cela, soyons extrêmement prudents avant de semer les graines de la peine. Même une faute minime, si nous pouvons l’éviter, faisons l’effort de l’éviter.

Comme le dit le Traité de Discipline (Vinaya) : « Bien que petite, la goutte d’eau qui tombe sans cesse finit par remplir le grand vase. » Celui qui craint la faute saura s’en préserver. Seul le téméraire qui méprise la faute s’enfonce toujours plus profondément dans le mal. Dès qu’il y a faute, la souffrance suit, comme l’ombre suit le corps ou l’écho suit la voix. Le pratiquant doit percevoir cette vérité avec clarté afin de ne pas se tromper et ne pas faire souffrir lui-même ni les autres.

b) Accomplir des mérites

Le bonheur et la paix sont des souhaits partagés par tous. Le pratiquant ne se contente pas de voeux pieux : il bâtit concrètement le bonheur d’autrui, bâtissant ainsi son propre bonheur. Le bonheur ne survient pas par hasard ; il est le fruit d’une culture paciente. Un acte, une parole ou une pensée bienveillante qui apporte la joie à autrui constitue la construction de notre propre bonheur.

Dans les paradoxes de la vie, celui qui abandonne tout est celui qui reçoit le plus. Inversement, celui qui cherche à tout garder est celui qui perd le plus. Créer son bonheur ne consiste pas à s’agripper obstinément à ce que l’on possède, mais à faire don de ce que l’on a pour offrir de la joie aux autres. En apportant de la joie à des centaines de personnes, nous créons en vérité des centaines de motifs de joie pour nous-mêmes.

C’est pourquoi on ne doit jamais se contenter des mérites accomplis : nous devons continuer tout au long de notre vie sans jamais considérer le travail comme achevé. Un jour, alors que le Bouddha résidait dans un monastère, le vénérable Aniruddha (A-na-luật) essayait d’enfiler une aiguille pour rapiécer son vêtement. Sa vue étant faible, il n’y parvenait pas et s’exclama : « Y a-t-il quelqu’un à la vue claire qui voudrait bien m’aider à enfiler cette aiguille pour accomplir un acte de mérite ? » Le Bouddha l’entendit, s’approcha et lui dit : « Aniruddha ! Donne-moi l’aiguille, je vais l’enfiler pour toi. » Le Bienheureux, bien que doté de mérites infinis, glanait encore le moindre mérite, comme celui d’enfiler une aiguille. Qui sommes-nous donc pour ne pas nous efforcer d’accomplir des mérites ? Plus le mérite est grand, plus la paix est immense : il n’y a aucune perte à le faire, alors pourquoi hésiter ?

V. CONCLUSION

Les fautes et les mérites sont des réalités concrètes du monde humain. Encourager les gens à éviter les fautes, c’est contribuer à réduire la souffrance de l’humanité. Louer l’accomplissement des mérites, c’est apporter le bonheur et la joie aux êtres vivants. Il est naturel que nous devions tous nous employer à cela de toutes nos forces. Il serait absurde que certains, non contents de ne rien faire, s’en prennent à ceux qui agissent.

Qui ne ressentirait pas de la peine en voyant les hommes s’entre-déchirer ? Une personne dotée d’une conscience et d’une profonde compassion ne peut rester indifférente devant des frères qui se détruisent. Éviter les fautes et accomplir des mérites est donc un devoir que chacun de nous doit mettre en pratique. Comprendre la dynamique des fautes et des mérites est la source même de la moralité. Ne nous laissons pas tromper par des concepts vains : la faute consiste à planter les germes de la souffrance chez l’être humain, tandis que le mérite consiste à semer les graines du bonheur pour les êtres vivants. C’est une réalité concrète, nullement une illusion ou une spéculation abstraite.

Les commentaires sont fermés.